Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp từ Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc
[MINH HUỆ 6-11-2015] Tiếp theo Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4
Một học viên từ Bắc Kinh đã gọi điện thoại cho Sư phụ và nói với Ngài
về một số người từ Pháp đến để gặp Ngài. Sư phụ nói: “Ta biết họ đến vì
bệnh của con họ. Con có thể bảo họ tìm người khác.”
Sau đó, một cuộc gọi nữa đến báo rằng họ đang trên đường đến đây và
nhất định phải gặp Sư phụ. Sư phụ nói: “Vì họ đang đến, nên ta sẽ gặp họ
nếu họ có duyên.”
Tôi đã đón nhóm người, gồm hai người Pháp, hai người Trung Quốc và
đưa họ đến phòng của Sư phụ ở khách sạn. Căn phòng rất giản dị và tất cả
họ đều phải ngồi trên giường.
Sư phụ hỏi: “Để ta xem vấn đề là gì.”
Người phiên dịch bắt đầu giới thiệu họ. Hai quý ông người Pháp là hai
cha con và họ sở hữu một công ty lớn. Người cha đi thẳng vào vấn đề.
Ông nói: “Chúng tôi là người Do Thái. Chúng tôi biết con người ngày nay
đang bại hoại và phải đối mặt với sự tàn phá của thiên tai. Chúa của
chúng tôi nói rằng chỉ duy nhất một người Trung Quốc mới có thể cứu nhân
loại, cứu người Pháp và cứu người Do Thái. Chúng tôi đã tìm kiếm rất
lâu và biết được người đó chính là Ngài – Sư phụ Lý Hồng Chí. Vì vậy,
chúng tôi đã đến để gặp Ngài.”
Ông nói: “Chúa của chúng tôi thỉnh mời Ngài đến Pháp để cứu Châu Âu.
Chúng tôi sẽ sắp xếp mọi thứ và trang trải tất cả những chi phí giúp
Ngài.” Giọng van nài và cách biểu đạt của ông khiến chúng tôi xúc động.
Sư phụ từ bi nói: “Ông có biết mình đang làm gì không? Đó là hành động sẽ mang lại uy đức vô biên. Còn chuyện gì khác không?”
Người đàn ông trẻ nói rằng con trai anh bảy tuổi và bị tâm thần. Cậu
bé không thể nói hay thoải mái cử động và bị chảy nước dãi. Người đàn
ông trẻ đã đi mọi nơi để tìm cách chữa trị cho con trai mình, nhưng vô
vọng. Anh đã xin Sư phụ chữa cho con trai anh.
Sư phụ nói: “Hãy để ta xem ảnh của cậu bé.”
“Chúng tôi không mang theo bức ảnh nào, nhưng chúng tôi có một cuộn băng video.”
Tôi đến quầy lễ tân để mượn một đầu máy chiếu video, nhưng khách sạn
đó không phải là một khách sạn cao cấp nên họ không có cái nào cả.
Sư phụ nói: “Được rồi. Anh chỉ cần hình dung về con trai anh trong tâm là được rồi.”
Sau một lúc, Sư phụ nói: “Bây giờ hãy hình dung rõ hơn về cậu bé.”
Sư phụ bắt đầu vẽ một hình người trên giường và nhìn chăm chú vào đó
một lúc. Sau đó, Ngài đưa một tay kéo qua lại hình đầu người như thể
đang rút bệnh ra khỏi cái đầu.
Sau một vài động tác, Ngài nắm chặt hai tay lại với nhau. Sau đó,
Ngài nhấc nắp tách trà lên và đặt thứ ở trong tay vào trong tách. Ngài
đậy nắp tách trà lại. Sư phụ vỗ nhẹ lên hình người trên giường ba lần từ
đầu đến chân.
Sư phụ ngừng lại và nhìn hình người, sau đó nói: “Ta nghĩ cháu bé giờ
đã ổn rồi. Bên kia vào lúc này hẳn đã có phản ứng. Các vị có thể gọi
điện thể xác nhận.”
Tôi đến quầy lễ tân nhưng khách sạn không có dịch vụ điện thoại quốc
tế. Người đàn ông người Pháp nói rằng họ sẽ gọi về nhà khi họ trở về
khách sạn vì ở Pháp hiện còn rất sớm – khoảng 4 giờ sáng.
Trước khi họ rời đi, Sư phụ nói: “Lại đây, ta sẽ cho các vị chút trải nghiệm về Pháp Luân.
Hãy đưa tay của các vị ra.” Ngài vẽ những vòng tròn trong không trung
gần tay của họ. Sau 10 phút, Sư phụ hỏi: “Các vị cảm nhận được gì
không?”
Người cha nói rằng dòng năng lượng đã qua tay đi vào cơ thể ông. Nó
rất mạnh và ông cảm thấy ấm áp. Con của ông nói rằng toàn cơ thể anh
rung lên. Năng lượng mạnh mẽ và tay của anh cảm thấy vô cùng mạnh mẽ.
Anh không thể đặt tay xuống trong vòng 15 phút.
Ba tiếng sau, người phiên dịch gọi cho tôi, anh rất xúc động nói: “Họ
đã gọi về nhà ở Pháp. Vợ của người đàn ông trẻ hỏi tại sao họ lại gọi
muộn như vậy. Cô nói rằng khoảng 4 giờ sáng, cô đã bị một chấn động mạnh
đánh thức. Căn phòng rất sáng. Cô nhận ra rằng chồng cô hẳn phải đang ở
cạnh vị khí công sư Trung Quốc và ông đang truyền năng lượng qua. Cô
chạy vào phòng của con và thấy con đang ngồi dậy trên giường. Cháu hỏi
mẹ một cách rành mạch và chính xác: ‘Chuyện gì đã xảy ra với con vậy
mẹ?’ Trước đó, chuyện này chưa từng xảy ra. Cô ôm con trong tay và bắt
đầu khóc. Cô đã chờ đợi cuộc điện thoại của họ. Khi gọi cho nhau, họ
khóc ở hai đầu dây điện thoại. Hai người Trung Quốc chúng tôi cũng khóc
cùng họ. Việc này rất xúc động. Sư phụ Lý Hồng Chí thật vĩ đại. Thật vĩ
đại.”
Tôi cũng khóc khi nghe xong cuộc gọi.
Người phiên dịch nói rằng hai người Pháp muốn gặp Sư phụ đêm nay và sau đó sẽ bay trở lại Pháp.
Tối nay sẽ là buổi giảng Pháp đầu tiên. Được tổ chức tại giảng đường
Nhà máy xe lửa Đại Liên, có sức chứa 2.700 người. Đây là lần thứ hai Sư
phụ giảng Pháp ở Đại Liên. Có nhiều người muốn tham dự khóa giảng đến
nỗi chúng tôi phải bán cả vé đứng, vì vậy khán giả lên đến gần 3.000
người.
Trước khi buổi thuyết giảng bắt đầu, tôi báo cho Sư phụ biết về những
gì đã diễn ra với đứa bé người Pháp. Tôi nói rằng tôi muốn kể với mọi
người trong lớp về điều đó vì Sư phụ đã thực hiện việc đó ở khoảng cách
hàng nghìn dặm. Một nhân viên ở cạnh Sư phụ nói rằng tôi không nên nói
về việc đó vì Sư phụ không làm những việc tương tự như chữa bệnh. Tôi
nói rằng đây không phải là chữa bệnh, mà về Sư phụ đã sử dụng công năng từ khoảng cách xa hàng nghìn dặm.
Tôi bước lên bục giảng và kể câu chuyện trước giảng đường trước khi
lớp học bắt đầu. Tôi đã bỏ qua phần về chúa của người Do Thái. Khán giả
đáp lại bằng tràng vỗ tay lớn. Tôi nhìn Sư phụ. Biểu hiện của Ngài thực
sự điềm tĩnh. Tôi thực sự khâm phục sự vĩ đại của Sư phụ.
Sau buổi thuyết giảng, tôi sắp xếp một nhà hàng để những người Pháp
ăn tối cùng Sư phụ. Họ nói với Sư phụ về cuộc điện thoại tới Pháp. Họ
vẫn rất vui mừng và vô cùng biết ơn Sư phụ. Trong bữa tối, họ đã hoàn
tất lịch trình để Sư phụ tới thăm Pháp. Tôi đã chụp một vài bức ảnh
trong bữa tối.
Khi rửa ảnh ra, tôi thấy có nhiều hình ảnh lờ mờ. Sư phụ nói với tôi
rằng: “Nhiều chư thần đã đến ăn tối, bao gồm cả chúa Jesus. Con có biết
ông ấy là ai không? Ông ấy là Nostradamus, lời tiên tri của ông cách đây
400 năm hóa ra 99% là sự thật. Mục đích ông đến thế gian này là để báo
cho con người về những thảm họa. Con người tin lời tiên tri cuối cùng
của ông về tận thế. Thảm họa này quả thực đã được an bài. Tuy nhiên, vì
ta đã đến để truyền giảng Đại Pháp, nó sẽ không xảy ra theo an bài. Ta
sẽ cải biến nó. Thảm họa đó sẽ không xảy ra, nhưng những người xấu sẽ bị
đào thải. Sẽ có rất nhiều người chết và điều đó rất khủng khiếp.”
Sư phụ đã nói với tôi một thiên cơ lớn như vậy. Tôi cảm thấy vinh dự và bị chấn động.
Sau khóa giảng ở Đại Liên, Sư phụ thông báo thành lập Trạm phụ đạo
Đại Liên. Ngài khuyến khích các học viên học Pháp, luyện công tốt, tu
luyện tâm tính và đạt viên mãn.
Lữ Thuận
Tiếp theo, tôi đi cùng Sư phụ tới Lữ Thuận trên một chiến hạm. Giáp
mặt với gió và nhìn ra biển, Sư phụ nói chuyện với các học viên hải quân
trên boong tàu. Có nhiều học viên ở Đại Liên trong ngành quân đội, hải
quân và không quân. Họ tu luyện rất tốt. Sư phụ nói rằng Ngài rất thích
những học viên là quân nhân này. Họ không có nhiều chấp trước và ngộ
tính tốt.
Tại phần giáp ranh giữa vùng biển Hoàng Hải và Bột Hải, Sư phụ rất
vui. Tôi đoán có nhiều chúng sinh từ thiên thượng và từ biển đã đến. Tôi
có thể cảm thấy sự hạnh phúc của Sư phụ dù tôi không thể nhìn được gì.
Sư phụ duỗi tay phải ra và nói: “Hãy nhìn tay ta.” Phụ đạo viên của
trung tâm Lữ Thuận nhìn qua thiên mục thấy rằng nhiều chư Phật và chúng sinh đang ở trên tay của Sư phụ.
Chúng tôi xem lại video của chuyến đi sau khi trở về. Có vô số Pháp
Luân kích cỡ khác nhau bao quanh chiến hạm. Nhiều hình ảnh cuốn sách
xuất hiện trên bầu trời, một số cuốn sách mở, số khác lại gập lại. Đó có
thể là gì? Tất nhiên, đó đều là sách của Đại Pháp. Tất cả các học viên
đã xem video đều bị chấn động.
Sư phụ thực sự rất vĩ đại. Chúng tôi quyết tâm luôn đi theo Sư phụ.
(Hết)
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/6/318464.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/24/153799.html
Đăng ngày 26-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Tập hợp những bài viết và trải nghiệm hay trong cuộc sống.
Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016
Bài viết của học viên Pháp Luân Đại Pháp từ Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc
[MINH HUỆ 5-11-2015] Tiếp theo Phần 1, Phần 2, Phần 3
4. Sư phụ tổ chức khóa giảng thứ hai tại Đại Liên
Cách đây không lâu, Sư phụ đã tổ chức một khóa giảng ở Đại Liên. Các học viên Pháp Luân Đại Pháp ở Đại Liên rất may mắn vì Sư phụ đã đồng ý tổ chức khóa giảng Pháp thứ hai tại đây. Lúc đầu, Sư phụ đã định đến thành phố khác, tuy nhiên, do vấn đề tổ chức nên khóa giảng đã bị hủy bỏ.
Tôi chỉ tình cờ ở gần Sư phụ khi Ngài đang chuẩn bị kế hoạch mới, nên tôi đã xin Sư phụ đến Đại Liên một lần nữa. 200 người ở khu vực bên ngoài và 500 người dân địa phương đã tham dự khóa giảng đầu tiên ở Đại Liên. Tôi biết sẽ có nhiều người hơn tham dự khóa giảng thứ hai này. Sư phụ đã đồng ý và quyết định ngày 1 tháng 7 là ngày bắt đầu khóa giảng. Tâm của Sư phụ đặt hết vào cứu độ chúng sinh.
Sư phụ bàn về giá vé
Tôi nghe được cuộc trò chuyện giữa Sư phụ và một nhân viên, cũng là một học viên, về giá vé để tham dự khóa giảng. Qua những gì tôi nghe được, thì chỉ mất 50 nhân dân tệ để tham dự khóa giảng đầu tiên. Sau khi trích phần trăm cho Hiệp hội Nghiên cứu Khoa học Khí công Trung Quốc, tiền còn lại rất ít – thậm chí không đủ để trang trải các chi phí. Hơn nữa, Sư phụ còn đề nghị giảm giá 50% cho tất cả các học viên cũ. Vị nhân viên kia lo ngại – làm sao họ kiếm đủ tiền để trang trải các chi phí đây?
Sư phụ nghiêm nghị nói: “Sao con lại nói điều đó? Con có biết ta đang làm gì ở đây không? Ta ở đây để giảng Pháp. Không có gì quan trọng hơn Pháp. Đừng nghĩ đến việc tăng giá. Không có học viên nào giàu cả. Chúng ta sẽ thu phí đồng giá 50 nhân dân tệ. Các học viên cũ được giảm một nửa, chỉ thu 25 nhân dân tệ. Còn về phần trăm phải trả cho Hội Nghiên cứu Khí công, chúng ta có thể thương lượng lại với họ.”
Tôi muốn khóc sau khi nghe điều này. Các khí công sư khác kiếm tiền qua các hoạt động của họ – họ thu phí hàng trăm nhân dân tệ cho một khóa giảng hai ngày. Bất cứ nơi nào họ đến, họ ăn đồ ăn đắt tiền, nghỉ ở khách sạn năm sao và lái xe quanh thành phố như những nhân vật quan trọng.
Ngược lại, Sư phụ của chúng ta hiếm khi đi máy bay để tiết kiệm tiền. Ngài ăn một bát mì và nghỉ ở những nhà khách nhỏ. Các học viên thì giúp Sư phụ mang những bao sách nặng và tài liệu thuyết giảng, theo Sư phụ từ thành phố này tới thành phố khác.
Sư phụ chỉ thu 50 nhân dân tệ cho một khóa giảng chín ngày và giảm nửa giá cho tất cả học viên cũ. Nơi nào trên thế giới có thể tìm được ai đó từ bi như Sư phụ? Con xin cảm tạ Sư phụ vì đã vất vả vì chúng con.
3.000 vé đã được bán
Khóa giảng được tổ chức ở hội trường của Nhà máy xe lửa Đại Liên và 2.700 ghế đã nhanh chóng được bán ra. Vì phản hồi tích cực, nên chúng tôi đã bán thêm 300 vé đứng, tổng cộng lớp học có 3.000 người.
Nhà máy xe lửa Đại Liên là công ty lớn nhất trong thành phố. Nhiều công nhân và viên chức đều là các học viên. Hội trường thường được sử dụng để tổ chức các buổi chia sẻ kinh nghiệm. Đổi lại, Đại Pháp ban phúc lành cho Nhà máy xe lửa – nó là công ty có lợi nhuận cao nhất trong toàn thành phố.
Một vị trung tướng mua vé
Trước khi khóa giảng bắt đầu, tôi nhận được điện thoại từ một trung tướng, ông cũng muốn mua vé tham dự khóa giảng. Ông đã đến nhà tôi sau khi chúng tôi nói chuyện ngắn gọn qua điện thoại.
Ông nói với tôi rằng một vị tướng đã nghỉ hưu ở Bắc Kinh nhờ ông mua vé. Vị tướng đó và gia đình ông đã tham dự một khóa giảng của Sư phụ và bắt đầu tu luyện Đại Pháp. Kể từ đó, ông đã nhận thấy những cải thiện đáng kể về mặt sức khỏe ở cả gia đình ông. Ông nói với vị trung tướng rằng đây là một môn tu luyện tuyệt vời và gia đình ông muốn tham dự khóa giảng ở Đại Liên một lần nữa. Vị trung tướng cũng mua một vài vé cho mình và nói rằng ông muốn thử tu luyện môn này.
Sau một năm, khi tôi gọi cho ông và nói rằng tôi có thể giới thiệu ông tới gặp Sư phụ, ông rất vui và đã đến ngay lập tức. Trước mặt Sư phụ, ông ngồi thẳng ngay ngắn, sử dụng tác phong quân đội và chào Sư phụ trước khi ông rời đi. Lúc đi ra, tôi hỏi ông ấy: “Ông đã có một sự nghiệp trong quân đội, chiến đấu và chiến thắng nhiều trận chiến. Bây giờ, ông đã giữ chức vị cao của một ủy viên chính trị quân sự. Ông có thực sự tin vào Phật Pháp không? Ông có tin vào Sư phụ Lý Hồng Chí không?”
Ông đáp: “Tôi tin. Sư phụ Lý Hồng Chí uy đức to lớn như vậy – lớn đến nỗi dù đó là ai, họ cũng cần phải lịch sự, tôn trọng và thể hiện sự tôn kính đối với Sư phụ.” Tôi đã rất ấn tượng bởi câu trả lời của ông. Quả thật, uy đức của Sư phụ vượt trên mọi thành tựu của thế gian.
Sư phụ xử lý can nhiễu
Sư phụ đến Đại Liên ngay sau khi khóa giảng ở Trịnh Châu kết thúc. Nhiều học viên đã nghe về những gì đã xảy ra ở Trịnh Châu và Sư phụ cũng đã đề cập đến trong các bài giảng của Ngài. Khi Sư phụ nói với chúng tôi về điều đó, Ngài đưa thêm vào một vài chi tiết.
Sư phụ nói với chúng tôi rằng một con yêu quái nhìn giống khủng long khổng lồ đã can nhiễu buổi thuyết giảng. Trời lập tức nổi gió dữ đội và có mưa đá cỡ quả trứng. Mái hội trường bị hỏng và mất điện. Sư phụ phải dừng buổi thuyết giảng. Tin về cơn bão đã xuất hiện trên tờ báo của địa phương.
Vì yêu quái đã can nhiễu việc giảng Pháp, Sư phụ không có lựa chọn nào khác ngoài việc xử lý nó. Mặc dù yêu quái rất hung dữ, nhưng với Sư phụ thì việc xử lý nó rất đơn giản. Sư phụ sử dụng đại thủ ấn, thu nhỏ nó lại, sau đó tóm nó trong tay và bỏ nó vào trong một chai nhựa đựng nước. Sau khi giải thể nó, Sư phụ ném cái chai vào thùng rác.
Nhiều ma quỷ cố gắng can nhiễu sau khi Sư phụ bắt đầu giảng Pháp trước công chúng, nhưng chúng chỉ có thể tự rước lấy hủy diệt cho chính mình.
Sư phụ giải quyết việc gián đoạn chuyến bay
Lúc đầu, Sư phụ định bay từ Tế Nam đến Đại Liên. Tuy nhiên, vì can nhiễu của tà ác, nên thời tiết thay đổi và trời đột nhiên nổi giông bão. Vì vậy, chuyến bay của Sư phụ đã bị hoãn.
Sư phụ có đến đúng giờ cho buổi thuyết giảng hay không còn chưa biết. Chúng tôi đã nhận được nhiều cuộc điện thoại hỏi xem buổi thuyết giảng liệu có tổ chức theo đúng kế hoạch hay không. Giữa lúc hỗn loạn và chưa rõ ràng, tôi nhận được một cuộc điện thoại nói rằng Sư phụ và mọi người sẽ đi thuyền từ Tế Nam đến.
Sau khi biết tin như vậy, hơn 100 học viên, không hề được yêu cầu, đã đến bến tàu để chào đón Sư phụ. Họ giương một biểu ngữ có dòng chữ: “Chào mừng Sư phụ Lý Hồng Chí đến Đại Liên.” Máy ảnh được lắp sẵn sàng và ống kính hướng thẳng vào bến tàu, mọi người đều đang đợi Sư phụ đến.
Một số người chúng tôi đến bến tàu, những người khác xếp hàng bên ngoài, kiên nhẫn chờ đợi. Một con tàu có tên là “Tân Thế Kỷ” chầm chậm đến gần bến tàu và cập cảng. Đó có phải một sự trùng hợp không? Sư phụ thực sự đang mở ra một kỷ nguyên mới.
Sư phụ đứng gần lối xuống tàu. Thấy có nhiều người đang đợi và chào đón Sư phụ, các hành khách tránh đường và Sư phụ tiến về phía trước. Nhiều người tò mò: “Tất cả những người này ở đây để đón ai vậy?”
Các học viên rất vui mừng và vỗ tay nhiệt liệt. Sư phụ cũng mỉm cười và vẫy tay về phía mọi người. Chúng tôi đi bộ cùng Sư phụ và gặp các học viên đang đợi bên ngoài bến tàu.
Sư phụ hỏi tôi: “Con có sắp xếp chuyện này không?” “Con không. Con không có sắp xếp gì cả. Các học viên nghe tin và họ tự đến.” Tôi cười tươi trả lời.
Sư phụ nghiêm cấm bất cứ ai trả tiền để thuê khách sạn sang trọng cho Ngài. Chúng tôi đặt phòng ở Khách sạn Vũ Hán, một khách sạn hạng kinh doanh nhỏ.
Trước khi khóa thuyết giảng bắt đầu, một học viên đưa cho tôi các phù hiệu để đưa cho các học viên. Cô nói với tôi rằng Sư phụ đã làm 200 cái và đưa cho tôi một vài cái. Tôi lấy một chiếc và đưa những chiếc còn lại cho những học viên khác. Tôi đã giữ huy hiệu quý giá này làm đồ lưu niệm – nó có một con dấu của Sư phụ trên đó.
Xem tiếp Phần 5
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/5/318463.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/23/153791.html
Đăng ngày 25-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
[MINH HUỆ 5-11-2015] Tiếp theo Phần 1, Phần 2, Phần 3
4. Sư phụ tổ chức khóa giảng thứ hai tại Đại Liên
Cách đây không lâu, Sư phụ đã tổ chức một khóa giảng ở Đại Liên. Các học viên Pháp Luân Đại Pháp ở Đại Liên rất may mắn vì Sư phụ đã đồng ý tổ chức khóa giảng Pháp thứ hai tại đây. Lúc đầu, Sư phụ đã định đến thành phố khác, tuy nhiên, do vấn đề tổ chức nên khóa giảng đã bị hủy bỏ.
Tôi chỉ tình cờ ở gần Sư phụ khi Ngài đang chuẩn bị kế hoạch mới, nên tôi đã xin Sư phụ đến Đại Liên một lần nữa. 200 người ở khu vực bên ngoài và 500 người dân địa phương đã tham dự khóa giảng đầu tiên ở Đại Liên. Tôi biết sẽ có nhiều người hơn tham dự khóa giảng thứ hai này. Sư phụ đã đồng ý và quyết định ngày 1 tháng 7 là ngày bắt đầu khóa giảng. Tâm của Sư phụ đặt hết vào cứu độ chúng sinh.
Sư phụ bàn về giá vé
Tôi nghe được cuộc trò chuyện giữa Sư phụ và một nhân viên, cũng là một học viên, về giá vé để tham dự khóa giảng. Qua những gì tôi nghe được, thì chỉ mất 50 nhân dân tệ để tham dự khóa giảng đầu tiên. Sau khi trích phần trăm cho Hiệp hội Nghiên cứu Khoa học Khí công Trung Quốc, tiền còn lại rất ít – thậm chí không đủ để trang trải các chi phí. Hơn nữa, Sư phụ còn đề nghị giảm giá 50% cho tất cả các học viên cũ. Vị nhân viên kia lo ngại – làm sao họ kiếm đủ tiền để trang trải các chi phí đây?
Sư phụ nghiêm nghị nói: “Sao con lại nói điều đó? Con có biết ta đang làm gì ở đây không? Ta ở đây để giảng Pháp. Không có gì quan trọng hơn Pháp. Đừng nghĩ đến việc tăng giá. Không có học viên nào giàu cả. Chúng ta sẽ thu phí đồng giá 50 nhân dân tệ. Các học viên cũ được giảm một nửa, chỉ thu 25 nhân dân tệ. Còn về phần trăm phải trả cho Hội Nghiên cứu Khí công, chúng ta có thể thương lượng lại với họ.”
Tôi muốn khóc sau khi nghe điều này. Các khí công sư khác kiếm tiền qua các hoạt động của họ – họ thu phí hàng trăm nhân dân tệ cho một khóa giảng hai ngày. Bất cứ nơi nào họ đến, họ ăn đồ ăn đắt tiền, nghỉ ở khách sạn năm sao và lái xe quanh thành phố như những nhân vật quan trọng.
Ngược lại, Sư phụ của chúng ta hiếm khi đi máy bay để tiết kiệm tiền. Ngài ăn một bát mì và nghỉ ở những nhà khách nhỏ. Các học viên thì giúp Sư phụ mang những bao sách nặng và tài liệu thuyết giảng, theo Sư phụ từ thành phố này tới thành phố khác.
Sư phụ chỉ thu 50 nhân dân tệ cho một khóa giảng chín ngày và giảm nửa giá cho tất cả học viên cũ. Nơi nào trên thế giới có thể tìm được ai đó từ bi như Sư phụ? Con xin cảm tạ Sư phụ vì đã vất vả vì chúng con.
3.000 vé đã được bán
Khóa giảng được tổ chức ở hội trường của Nhà máy xe lửa Đại Liên và 2.700 ghế đã nhanh chóng được bán ra. Vì phản hồi tích cực, nên chúng tôi đã bán thêm 300 vé đứng, tổng cộng lớp học có 3.000 người.
Nhà máy xe lửa Đại Liên là công ty lớn nhất trong thành phố. Nhiều công nhân và viên chức đều là các học viên. Hội trường thường được sử dụng để tổ chức các buổi chia sẻ kinh nghiệm. Đổi lại, Đại Pháp ban phúc lành cho Nhà máy xe lửa – nó là công ty có lợi nhuận cao nhất trong toàn thành phố.
Một vị trung tướng mua vé
Trước khi khóa giảng bắt đầu, tôi nhận được điện thoại từ một trung tướng, ông cũng muốn mua vé tham dự khóa giảng. Ông đã đến nhà tôi sau khi chúng tôi nói chuyện ngắn gọn qua điện thoại.
Ông nói với tôi rằng một vị tướng đã nghỉ hưu ở Bắc Kinh nhờ ông mua vé. Vị tướng đó và gia đình ông đã tham dự một khóa giảng của Sư phụ và bắt đầu tu luyện Đại Pháp. Kể từ đó, ông đã nhận thấy những cải thiện đáng kể về mặt sức khỏe ở cả gia đình ông. Ông nói với vị trung tướng rằng đây là một môn tu luyện tuyệt vời và gia đình ông muốn tham dự khóa giảng ở Đại Liên một lần nữa. Vị trung tướng cũng mua một vài vé cho mình và nói rằng ông muốn thử tu luyện môn này.
Sau một năm, khi tôi gọi cho ông và nói rằng tôi có thể giới thiệu ông tới gặp Sư phụ, ông rất vui và đã đến ngay lập tức. Trước mặt Sư phụ, ông ngồi thẳng ngay ngắn, sử dụng tác phong quân đội và chào Sư phụ trước khi ông rời đi. Lúc đi ra, tôi hỏi ông ấy: “Ông đã có một sự nghiệp trong quân đội, chiến đấu và chiến thắng nhiều trận chiến. Bây giờ, ông đã giữ chức vị cao của một ủy viên chính trị quân sự. Ông có thực sự tin vào Phật Pháp không? Ông có tin vào Sư phụ Lý Hồng Chí không?”
Ông đáp: “Tôi tin. Sư phụ Lý Hồng Chí uy đức to lớn như vậy – lớn đến nỗi dù đó là ai, họ cũng cần phải lịch sự, tôn trọng và thể hiện sự tôn kính đối với Sư phụ.” Tôi đã rất ấn tượng bởi câu trả lời của ông. Quả thật, uy đức của Sư phụ vượt trên mọi thành tựu của thế gian.
Sư phụ xử lý can nhiễu
Sư phụ đến Đại Liên ngay sau khi khóa giảng ở Trịnh Châu kết thúc. Nhiều học viên đã nghe về những gì đã xảy ra ở Trịnh Châu và Sư phụ cũng đã đề cập đến trong các bài giảng của Ngài. Khi Sư phụ nói với chúng tôi về điều đó, Ngài đưa thêm vào một vài chi tiết.
Sư phụ nói với chúng tôi rằng một con yêu quái nhìn giống khủng long khổng lồ đã can nhiễu buổi thuyết giảng. Trời lập tức nổi gió dữ đội và có mưa đá cỡ quả trứng. Mái hội trường bị hỏng và mất điện. Sư phụ phải dừng buổi thuyết giảng. Tin về cơn bão đã xuất hiện trên tờ báo của địa phương.
Vì yêu quái đã can nhiễu việc giảng Pháp, Sư phụ không có lựa chọn nào khác ngoài việc xử lý nó. Mặc dù yêu quái rất hung dữ, nhưng với Sư phụ thì việc xử lý nó rất đơn giản. Sư phụ sử dụng đại thủ ấn, thu nhỏ nó lại, sau đó tóm nó trong tay và bỏ nó vào trong một chai nhựa đựng nước. Sau khi giải thể nó, Sư phụ ném cái chai vào thùng rác.
Nhiều ma quỷ cố gắng can nhiễu sau khi Sư phụ bắt đầu giảng Pháp trước công chúng, nhưng chúng chỉ có thể tự rước lấy hủy diệt cho chính mình.
Sư phụ giải quyết việc gián đoạn chuyến bay
Lúc đầu, Sư phụ định bay từ Tế Nam đến Đại Liên. Tuy nhiên, vì can nhiễu của tà ác, nên thời tiết thay đổi và trời đột nhiên nổi giông bão. Vì vậy, chuyến bay của Sư phụ đã bị hoãn.
Sư phụ có đến đúng giờ cho buổi thuyết giảng hay không còn chưa biết. Chúng tôi đã nhận được nhiều cuộc điện thoại hỏi xem buổi thuyết giảng liệu có tổ chức theo đúng kế hoạch hay không. Giữa lúc hỗn loạn và chưa rõ ràng, tôi nhận được một cuộc điện thoại nói rằng Sư phụ và mọi người sẽ đi thuyền từ Tế Nam đến.
Sau khi biết tin như vậy, hơn 100 học viên, không hề được yêu cầu, đã đến bến tàu để chào đón Sư phụ. Họ giương một biểu ngữ có dòng chữ: “Chào mừng Sư phụ Lý Hồng Chí đến Đại Liên.” Máy ảnh được lắp sẵn sàng và ống kính hướng thẳng vào bến tàu, mọi người đều đang đợi Sư phụ đến.
Một số người chúng tôi đến bến tàu, những người khác xếp hàng bên ngoài, kiên nhẫn chờ đợi. Một con tàu có tên là “Tân Thế Kỷ” chầm chậm đến gần bến tàu và cập cảng. Đó có phải một sự trùng hợp không? Sư phụ thực sự đang mở ra một kỷ nguyên mới.
Sư phụ đứng gần lối xuống tàu. Thấy có nhiều người đang đợi và chào đón Sư phụ, các hành khách tránh đường và Sư phụ tiến về phía trước. Nhiều người tò mò: “Tất cả những người này ở đây để đón ai vậy?”
Các học viên rất vui mừng và vỗ tay nhiệt liệt. Sư phụ cũng mỉm cười và vẫy tay về phía mọi người. Chúng tôi đi bộ cùng Sư phụ và gặp các học viên đang đợi bên ngoài bến tàu.
Sư phụ hỏi tôi: “Con có sắp xếp chuyện này không?” “Con không. Con không có sắp xếp gì cả. Các học viên nghe tin và họ tự đến.” Tôi cười tươi trả lời.
Sư phụ nghiêm cấm bất cứ ai trả tiền để thuê khách sạn sang trọng cho Ngài. Chúng tôi đặt phòng ở Khách sạn Vũ Hán, một khách sạn hạng kinh doanh nhỏ.
Trước khi khóa thuyết giảng bắt đầu, một học viên đưa cho tôi các phù hiệu để đưa cho các học viên. Cô nói với tôi rằng Sư phụ đã làm 200 cái và đưa cho tôi một vài cái. Tôi lấy một chiếc và đưa những chiếc còn lại cho những học viên khác. Tôi đã giữ huy hiệu quý giá này làm đồ lưu niệm – nó có một con dấu của Sư phụ trên đó.
Xem tiếp Phần 5
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/5/318463.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/23/153791.html
Đăng ngày 25-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp từ thành phố Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc
[MINH HUỆ 4-11-2015] Tiếp theo Phần 1, Phần 2
3. Tham dự khóa giảng ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên
Sau khi khóa giảng ở Đại Liên kết thúc, Sư phụ thấy chúng tôi không muốn xa Ngài, nên đã bảo chúng tôi rằng: “Tháng 6 có một khóa giảng ở Thành Đô. Chư vị hãy cùng tôi đến núi Nga Mi.”
Tôi cùng một vài học viên đã bay tới Thành Đô. Tài xế taxi kể với chúng tôi rằng đã xảy ra một đợt hạn hán khá nghiêm trọng kéo dài mà chỉ mới kết thúc cách đây vài ngày. Trời bắt đầu mưa vào ngày Sư phụ đến Thành Đô. Chúng tôi biết rằng Sư phụ đã ban phúc lành cho thành phố.
Những ngày chúng tôi ở đó trời đều mưa. Chúng tôi và Sư phụ ở cùng khách sạn. Mỗi ngày, khi chúng tôi đi cùng Sư phụ đến lớp, trời ngừng mưa. Buổi tối, sau khi trở về, trời lại bắt đầu mưa ngay lập tức. Lần nào cũng như vậy, vì thế không ai trong chúng tôi phải lo mang ô khi rời khỏi khách sạn.
Chủ nhật hôm đó, các học viên địa phương đã mời Sư phụ và chúng tôi tới thăm một số danh lam thắng cảnh. Khi chúng tôi đang trèo lên núi Thanh Thành, Sư phụ nói: “Nhìn tôi có vẻ thoải mái, nhưng thực tế tôi đang gánh chịu nghiệp lực to lớn cho các học viên. Tôi phải giải quyết vô số những mâu thuẫn và món nợ của chư vị trong lịch sử. Cảm giác như có ba ngọn núi lớn đang đè lên tôi. Thật khó để tôi cất từng bước. Nhưng nếu tôi không gánh chịu nghiệp lực cho các học viên, không ai trong các vị có thể tu luyện.” Tôi đã khóc sau khi biết những gì Sư phụ phải chịu đựng vì chúng tôi. Tôi tự nhủ mình sẽ làm bất kỳ điều gì để giảm bớt gánh nặng cho Sư phụ.
Mọi người đều đẫm mồ hôi trong khi leo núi. Sư phụ mua cho chúng tôi dưa chuột và nói: “Dưa chuột tốt cho các vị. Chúng làm dịu cơn khát, đồng thời cũng làm bớt đói.” Mọi người đều cười.
Có một đạo quán trên núi Thanh Thành. Sư phụ dẫn chúng tôi vào trong và giảng cho chúng tôi về con người hiện đại đã trộn lẫn hai trường phái Phật gia và Đạo gia như thế nào. Khi chúng tôi rời đi, tôi nghe thấy một vị Đạo sĩ nói về chúng tôi: “Họ không phải người thường. Đây là một nhóm người phi thường!” Tôi nói với Sư phụ những gì mà tôi nghe được. Ngài nhìn vị đạo sĩ và nói: “Vị này căn cơ cũng không tệ lắm.”
Núi Nga Mi là một trong bốn ngọn núi nổi tiếng của Phật giáo Trung Quốc. Khi chúng tôi đến đó, mưa ngừng rơi, trời lạnh và có sương mù. Chúng tôi biết thời tiết sẽ rất lạnh khi ở trên đỉnh núi, vậy nên tôi hỏi Sư phụ xem chúng tôi có nên mua một vài chiếc áo khoác không. Ngài bảo chúng tôi hãy chỉ mua một vài cái áo choàng che mưa. Tôi đã dùng 10 nhân dân tệ để mua mười cái áo che mưa, Sư phụ nói rằng Ngài không cần dùng.
Chúng tôi đi cáp treo tới Kim Đính. Một học viên nói với Sư phụ: “Con nhìn thấy một con rồng.” Sư phụ ra hiệu để cô ấy nói nhỏ lại. Tôi hỏi Sư phụ xem có thật là rồng hay không. Ngài nói với tôi rằng: “Có. Chẳng những bên trong mà bên ngoài khoang cáp treo cũng có rồng đang nâng khoang xe.”
Trên đỉnh núi, các khách du lịch khác mặc áo khoác mùa đông dày. Tôi chỉ mặc y phục mùa hè và áo mưa mỏng. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không cảm thấy lạnh. Tôi cảm thấy có hơi ấm dâng lên từ bàn chân. Tôi không thể nhìn được rõ qua lớp sương mù, vì vậy tôi đã nhắm mắt lại. Khi nhắm mắt, tôi thấy một vị kim Phật đang ngồi ở đó đả tọa. Vị Phật biến mất, sau đó tôi thấy những tia sáng lấp lánh. Tôi mở mắt và nhìn lên bầu trời, trước mắt tôi là những vị Phật khổng lồ, vị này kế tiếp vị kia. Một số họ trông giống các vị Bồ Tát và một số vị trông giống Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi không nhận ra được hết tất cả các vị Phật.
Tôi cố gắng giữ bình tĩnh và chỉ nhìn. Họ đang tỏa sáng rực rỡ, tôi không thể tiếp tục mở mắt. Tôi quay đầu sang bên phải và có thêm các vị Phật xuất hiện. Điều tương tự xảy ra khi tôi xoay đầu sang bên trái. Thường thì tôi không thể nhìn được gì bằng thiên mục trừ khi Sư phụ muốn tôi nhìn được. Những gì tôi nhìn được vào hôm đó là một món quà từ Sư phụ.
Khi chúng tôi chia sẻ lại những suy nghĩ của mình tại khách sạn, Sư phụ đã đến gặp chúng tôi. Chúng tôi đứng dậy, Sư phụ bảo chúng tôi hãy chia sẻ về những gì mà chúng tôi đã nhìn được vào hôm đó. Học viên Khương từ Quý Châu nói rằng anh đã nhìn thấy các vị Phật, bao gồm Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Chúa Jesus, Đức mẹ Maria, Thánh Jehovah, Bát Tiên và nhiều chư Phật khác mà anh không nhận ra được. Sư phụ nói rằng hôm nay tất cả các vị Đại Phật đã ở đó. Tôi hỏi Sư phụ tia sáng mà tôi đã nhìn thấy là gì. Ngài nói với tôi rằng tôi đã nhìn thấy vũ trụ bị tạc nổ và các ngôi sao bị giải thể.
Sư phụ nói: “Đây, để ta viết cho con một chữ!” Ngài dùng ngón trỏ phải của mình và vạch một chữ “Phật” lớn trên tường. Tôi thấy tia sáng màu xanh lá cây tỏa ra từ đầu ngón tay của Ngài và hỏi xem chữ Phật có ở đó mãi mãi không. Ngài gật đầu nói: “Có, bất cứ ai ở trong căn phòng này đều sẽ nhận được phúc lành.”
Nửa giờ sau, một học viên vào phòng của chúng tôi. Lúc bước vào, cô nói lớn: “Ồ, Sư phụ đã viết một chữ ở đây.” Chúng tôi hỏi cô chữ đó là gì và nó được viết ở đâu. Cô đã trả lời đúng. Chúng tôi khá ngạc nhiên.
Tôi nhớ một câu chuyện mà học viên này từng nói với tôi. Một ngày mùa hè ở Bắc Kinh, cô ngồi bên ngoài cửa. Thời tiết nóng đến nỗi cô nghĩ: “Thật tuyệt nếu có một quả dưa hấu lạnh để Sư phụ giải nhiệt.” Khi cô nghĩ điều này một học viên đến mang theo một quả dưa hấu. Sau đó, cô nghĩ: “Nếu có thêm chút hoa quả khác nữa thì tốt.” Không lâu sau, một học viên khác mang các loại hoa quả khác đến. Cô vô cùng vui mừng khi tất cả mong muốn của cô đều trở thành hiện thực. Khi cô đứng dậy, Sư phụ bước đến cửa và nói với cô bằng nét mặt nghiêm nghị: “Đủ rồi. Con còn muốn bao nhiêu nữa.” Cô biết rằng mình không nên có những suy nghĩ như vậy.
Sau đó, chúng tôi đi thẳng đến Lạc Sơn và thấy một bức tượng Đại Phật. Bức tượng nhìn đã nhiều năm tuổi và có những vết nứt ở một số nơi. Một học viên nói với Sư phụ rằng: “Ông ấy nói ngón chân thứ ba bị đau, lưng bị ẩm.” Tôi cùng bạn học viên đó đi xem chuyện gì đã xảy ra. Ngón thứ ba của bức tượng đã bị nứt và có một người đang đứng trên đó chụp ảnh. Chúng tôi trèo lên và phát hiện ra có một khe nước nhỏ được hình thành sau cơn mưa, khe nước nhỏ nước xuống lưng của bức tượng. Không lạ khi ông than phiền rằng cảm thấy ẩm và khó chịu. Thì ra bức tượng chính là một Pháp thân của Phật. Câu chuyện của những người bị quả báo sau khi đập vỡ các bức tượng trong Cách mạng Văn hóa hẳn là đúng.
Học viên Từ nói với Sư phụ rằng vị Đại Phật nhìn giống một cô gái 15 tuổi. Cô làm cử chỉ bày tỏ sự tôn kính đối với Sư phụ và nói: “Đây là một vị Phật Như Lai.” Sư phụ nói rằng vị Đại Phật Lạc Sơn chỉ có thể nhìn được đến tầng của Như Lai.
Khi đến lúc phải đi, Sư phụ nói lớn: “Chư vị đến từ Thế giới Pháp Luân, hãy đi thôi!” Tôi cảm thấy rất hạnh phúc khi lần đầu tiên nghe Sư phụ nói rằng những học viên chúng tôi đến từ Thế giới Pháp Luân.
Sau khi chúng tôi trở về, tôi nhận ra rằng mình đã không lắp phim vào máy ảnh. Vì vậy, tất cả những bức ảnh mà tôi nghĩ mình đã chụp được trong chuyến đi cùng Sư phụ đều không có. Tôi biết mình có tâm hoan hỉ và hiển thị, vì được chụp ảnh cùng Sư phụ. Hoặc có lẽ một số điều trong chuyến đi nên được giữ bí mật.
(Còn tiếp)
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/4/318462.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/22/153780.html
Đăng ngày 23-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
[MINH HUỆ 4-11-2015] Tiếp theo Phần 1, Phần 2
3. Tham dự khóa giảng ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên
Sau khi khóa giảng ở Đại Liên kết thúc, Sư phụ thấy chúng tôi không muốn xa Ngài, nên đã bảo chúng tôi rằng: “Tháng 6 có một khóa giảng ở Thành Đô. Chư vị hãy cùng tôi đến núi Nga Mi.”
Tôi cùng một vài học viên đã bay tới Thành Đô. Tài xế taxi kể với chúng tôi rằng đã xảy ra một đợt hạn hán khá nghiêm trọng kéo dài mà chỉ mới kết thúc cách đây vài ngày. Trời bắt đầu mưa vào ngày Sư phụ đến Thành Đô. Chúng tôi biết rằng Sư phụ đã ban phúc lành cho thành phố.
Những ngày chúng tôi ở đó trời đều mưa. Chúng tôi và Sư phụ ở cùng khách sạn. Mỗi ngày, khi chúng tôi đi cùng Sư phụ đến lớp, trời ngừng mưa. Buổi tối, sau khi trở về, trời lại bắt đầu mưa ngay lập tức. Lần nào cũng như vậy, vì thế không ai trong chúng tôi phải lo mang ô khi rời khỏi khách sạn.
Chủ nhật hôm đó, các học viên địa phương đã mời Sư phụ và chúng tôi tới thăm một số danh lam thắng cảnh. Khi chúng tôi đang trèo lên núi Thanh Thành, Sư phụ nói: “Nhìn tôi có vẻ thoải mái, nhưng thực tế tôi đang gánh chịu nghiệp lực to lớn cho các học viên. Tôi phải giải quyết vô số những mâu thuẫn và món nợ của chư vị trong lịch sử. Cảm giác như có ba ngọn núi lớn đang đè lên tôi. Thật khó để tôi cất từng bước. Nhưng nếu tôi không gánh chịu nghiệp lực cho các học viên, không ai trong các vị có thể tu luyện.” Tôi đã khóc sau khi biết những gì Sư phụ phải chịu đựng vì chúng tôi. Tôi tự nhủ mình sẽ làm bất kỳ điều gì để giảm bớt gánh nặng cho Sư phụ.
Mọi người đều đẫm mồ hôi trong khi leo núi. Sư phụ mua cho chúng tôi dưa chuột và nói: “Dưa chuột tốt cho các vị. Chúng làm dịu cơn khát, đồng thời cũng làm bớt đói.” Mọi người đều cười.
Có một đạo quán trên núi Thanh Thành. Sư phụ dẫn chúng tôi vào trong và giảng cho chúng tôi về con người hiện đại đã trộn lẫn hai trường phái Phật gia và Đạo gia như thế nào. Khi chúng tôi rời đi, tôi nghe thấy một vị Đạo sĩ nói về chúng tôi: “Họ không phải người thường. Đây là một nhóm người phi thường!” Tôi nói với Sư phụ những gì mà tôi nghe được. Ngài nhìn vị đạo sĩ và nói: “Vị này căn cơ cũng không tệ lắm.”
Núi Nga Mi là một trong bốn ngọn núi nổi tiếng của Phật giáo Trung Quốc. Khi chúng tôi đến đó, mưa ngừng rơi, trời lạnh và có sương mù. Chúng tôi biết thời tiết sẽ rất lạnh khi ở trên đỉnh núi, vậy nên tôi hỏi Sư phụ xem chúng tôi có nên mua một vài chiếc áo khoác không. Ngài bảo chúng tôi hãy chỉ mua một vài cái áo choàng che mưa. Tôi đã dùng 10 nhân dân tệ để mua mười cái áo che mưa, Sư phụ nói rằng Ngài không cần dùng.
Chúng tôi đi cáp treo tới Kim Đính. Một học viên nói với Sư phụ: “Con nhìn thấy một con rồng.” Sư phụ ra hiệu để cô ấy nói nhỏ lại. Tôi hỏi Sư phụ xem có thật là rồng hay không. Ngài nói với tôi rằng: “Có. Chẳng những bên trong mà bên ngoài khoang cáp treo cũng có rồng đang nâng khoang xe.”
Trên đỉnh núi, các khách du lịch khác mặc áo khoác mùa đông dày. Tôi chỉ mặc y phục mùa hè và áo mưa mỏng. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không cảm thấy lạnh. Tôi cảm thấy có hơi ấm dâng lên từ bàn chân. Tôi không thể nhìn được rõ qua lớp sương mù, vì vậy tôi đã nhắm mắt lại. Khi nhắm mắt, tôi thấy một vị kim Phật đang ngồi ở đó đả tọa. Vị Phật biến mất, sau đó tôi thấy những tia sáng lấp lánh. Tôi mở mắt và nhìn lên bầu trời, trước mắt tôi là những vị Phật khổng lồ, vị này kế tiếp vị kia. Một số họ trông giống các vị Bồ Tát và một số vị trông giống Phật Thích Ca Mâu Ni. Tôi không nhận ra được hết tất cả các vị Phật.
Tôi cố gắng giữ bình tĩnh và chỉ nhìn. Họ đang tỏa sáng rực rỡ, tôi không thể tiếp tục mở mắt. Tôi quay đầu sang bên phải và có thêm các vị Phật xuất hiện. Điều tương tự xảy ra khi tôi xoay đầu sang bên trái. Thường thì tôi không thể nhìn được gì bằng thiên mục trừ khi Sư phụ muốn tôi nhìn được. Những gì tôi nhìn được vào hôm đó là một món quà từ Sư phụ.
Khi chúng tôi chia sẻ lại những suy nghĩ của mình tại khách sạn, Sư phụ đã đến gặp chúng tôi. Chúng tôi đứng dậy, Sư phụ bảo chúng tôi hãy chia sẻ về những gì mà chúng tôi đã nhìn được vào hôm đó. Học viên Khương từ Quý Châu nói rằng anh đã nhìn thấy các vị Phật, bao gồm Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Chúa Jesus, Đức mẹ Maria, Thánh Jehovah, Bát Tiên và nhiều chư Phật khác mà anh không nhận ra được. Sư phụ nói rằng hôm nay tất cả các vị Đại Phật đã ở đó. Tôi hỏi Sư phụ tia sáng mà tôi đã nhìn thấy là gì. Ngài nói với tôi rằng tôi đã nhìn thấy vũ trụ bị tạc nổ và các ngôi sao bị giải thể.
Sư phụ nói: “Đây, để ta viết cho con một chữ!” Ngài dùng ngón trỏ phải của mình và vạch một chữ “Phật” lớn trên tường. Tôi thấy tia sáng màu xanh lá cây tỏa ra từ đầu ngón tay của Ngài và hỏi xem chữ Phật có ở đó mãi mãi không. Ngài gật đầu nói: “Có, bất cứ ai ở trong căn phòng này đều sẽ nhận được phúc lành.”
Nửa giờ sau, một học viên vào phòng của chúng tôi. Lúc bước vào, cô nói lớn: “Ồ, Sư phụ đã viết một chữ ở đây.” Chúng tôi hỏi cô chữ đó là gì và nó được viết ở đâu. Cô đã trả lời đúng. Chúng tôi khá ngạc nhiên.
Tôi nhớ một câu chuyện mà học viên này từng nói với tôi. Một ngày mùa hè ở Bắc Kinh, cô ngồi bên ngoài cửa. Thời tiết nóng đến nỗi cô nghĩ: “Thật tuyệt nếu có một quả dưa hấu lạnh để Sư phụ giải nhiệt.” Khi cô nghĩ điều này một học viên đến mang theo một quả dưa hấu. Sau đó, cô nghĩ: “Nếu có thêm chút hoa quả khác nữa thì tốt.” Không lâu sau, một học viên khác mang các loại hoa quả khác đến. Cô vô cùng vui mừng khi tất cả mong muốn của cô đều trở thành hiện thực. Khi cô đứng dậy, Sư phụ bước đến cửa và nói với cô bằng nét mặt nghiêm nghị: “Đủ rồi. Con còn muốn bao nhiêu nữa.” Cô biết rằng mình không nên có những suy nghĩ như vậy.
Sau đó, chúng tôi đi thẳng đến Lạc Sơn và thấy một bức tượng Đại Phật. Bức tượng nhìn đã nhiều năm tuổi và có những vết nứt ở một số nơi. Một học viên nói với Sư phụ rằng: “Ông ấy nói ngón chân thứ ba bị đau, lưng bị ẩm.” Tôi cùng bạn học viên đó đi xem chuyện gì đã xảy ra. Ngón thứ ba của bức tượng đã bị nứt và có một người đang đứng trên đó chụp ảnh. Chúng tôi trèo lên và phát hiện ra có một khe nước nhỏ được hình thành sau cơn mưa, khe nước nhỏ nước xuống lưng của bức tượng. Không lạ khi ông than phiền rằng cảm thấy ẩm và khó chịu. Thì ra bức tượng chính là một Pháp thân của Phật. Câu chuyện của những người bị quả báo sau khi đập vỡ các bức tượng trong Cách mạng Văn hóa hẳn là đúng.
Học viên Từ nói với Sư phụ rằng vị Đại Phật nhìn giống một cô gái 15 tuổi. Cô làm cử chỉ bày tỏ sự tôn kính đối với Sư phụ và nói: “Đây là một vị Phật Như Lai.” Sư phụ nói rằng vị Đại Phật Lạc Sơn chỉ có thể nhìn được đến tầng của Như Lai.
Khi đến lúc phải đi, Sư phụ nói lớn: “Chư vị đến từ Thế giới Pháp Luân, hãy đi thôi!” Tôi cảm thấy rất hạnh phúc khi lần đầu tiên nghe Sư phụ nói rằng những học viên chúng tôi đến từ Thế giới Pháp Luân.
Sau khi chúng tôi trở về, tôi nhận ra rằng mình đã không lắp phim vào máy ảnh. Vì vậy, tất cả những bức ảnh mà tôi nghĩ mình đã chụp được trong chuyến đi cùng Sư phụ đều không có. Tôi biết mình có tâm hoan hỉ và hiển thị, vì được chụp ảnh cùng Sư phụ. Hoặc có lẽ một số điều trong chuyến đi nên được giữ bí mật.
(Còn tiếp)
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/4/318462.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/22/153780.html
Đăng ngày 23-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Bài viết của một học viên Pháp Luân Công từ Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc
[MINH HUỆ 3-11-2015] Tiếp theo Phần 1
2. Chuyến đi cùng Sư phụ đến thành phố Cẩm Châu
Xua tan mây mưa
Trời bắt đầu mưa phùn khi chúng tôi đến con đường tới Cẩm Châu. Tôi nói với Sư phụ rằng trời đang mưa và Sư phụ hỏi: “Mưa vào mùa xuân không phải tốt sao?” Tôi nói với Ngài rằng mưa là tốt, nhưng sẽ gặp khó khăn khi lái xe trong mưa. Sư phụ mỉm cười và nói: “Tháng 4 là mùa mưa, vậy thì hãy để trời tiếp tục mưa phía sau chúng ta vậy.”
Sau khi nói chuyện với Sư phụ, tôi thấy mây nặng hơn và dường như trời đất được bao phủ bởi một tấm chăn dày màu đen. Lúc đó, Sư phụ bắt đầu chuyển hai tay và tôi biết rằng Ngài đang xoay Pháp Luân.
Không lâu sau, tấm chăn đen bị xé nhỏ, những đám mây đen lớn bắt đầu tản ra. Sau đó trong nháy mắt, mưa ngừng rơi. Tôi có thể thấy được bầu trời xanh phía trước, mặc dù những đám mây phía sau chúng tôi tối tăm mờ mịt. Thật kinh ngạc.
Người tài xế có thể nhìn được không gian khác nên đã hỏi Sư phụ những vị thần mà thỉnh thoảng xuất hiện hai bên đường là ai. Sư phụ nói với chúng tôi rằng họ là thổ địa từ các khu vực khác nhau. Họ có nhiều vì là chúng thần ở tầng thấp nhất. Một ngọn núi lớn thường có một đại thổ địa trong khi một ngọn núi nhỏ có một tiểu thổ địa, mỗi vị chịu trách nhiệm về khu vực của mình. Hôm đó họ xuất hiện để chào đón Sư phụ. Sau đó, Sư phụ nói rằng có hai con rồng đã hộ tống chúng tôi suốt từ thành phố Đại Liên.
Chúng tôi dừng lại tại một quán ăn nhỏ để ăn sáng. Trời lại bắt đầu mưa, nhưng Sư phụ đứng bên cửa sổ và xoay Pháp Luân một lần nữa. Sau chưa đến mười giây, mưa ngừng.
Sư phụ biết hướng đi
Khi tài xế xuống xe để hỏi hướng đi tới đích đến của chúng tôi, tôi thấy Sư phụ đang vẽ một bản đồ trong không trung, sau đó Ngài nói: “Đi thẳng, rẽ phải, sau đó có lẽ chúng ta sẽ đi thêm khoảng 150 mét để đến chỗ đó.”
Tài xế trở lại và nói với chúng tôi rằng chúng tôi đơn giản chỉ cần đi thẳng. Nghe vậy, tôi bắt đầu nghi ngờ liệu Sư phụ có đúng hay không. Khi chúng tôi đến một ngã tư, Sư phụ bảo tài xế rẽ phải. Sau đó khoảng 150 mét, chúng tôi đã tìm thấy Hiệp hội Khí công Cẩm Châu ở cuối đường.
Truyền cảm tư duy
Tôi hỏi Sư phụ xem liệu tôi có nên gọi cho một học viên lớn tuổi đã ở đó trước chúng tôi để bảo bà rằng chúng tôi đã đến, nhưng Sư phụ không đáp. Sau đó, tôi thấy học viên đó đang chạy tới xe của chúng tôi. Bà nói với Sư phụ rằng: “Con thấy Sư phụ rời Đại Liên, nhưng dừng lại vào khoảng 10 giờ sáng.” Tôi nói với bà rằng chúng tôi dừng để ăn sáng vào lúc 10 giờ sáng.
Bà nói: “Phải rồi. Tôi thấy mọi người đã đến gần, vậy nên tôi đã bảo các học viên khác rằng Sư phụ đến. Vừa ra đến đây thì thấy mọi người tới.”
Cuối cùng, tôi đã hiểu được Sư phụ đã liên lạc với đồng tu này bằng cách truyền cảm tư duy. Kinh ngạc, tôi nói: “Không lạ khi Sư phụ không nói gì với tôi. Bà đã được liên lạc với Sư phụ suốt chuyến đi.”
Rồng và các chúng thần
Sư phụ đến Cẩm Châu để mở lớp học chín ngày. Khi không có lớp, chúng tôi đến núi Bút Giá, một điểm du lịch nổi tiếng ở thành phố Cẩm Châu. Sư phụ và người học viên lớn tuổi kia nhìn vào cái giếng gần cổng chính một lúc lâu. Tôi cũng nhìn nhưng không thấy được gì. Sư phụ bảo học viên đó dạy tôi cách để nhìn những thứ ở trong giếng. Sư phụ nói với chúng tôi rằng: “Con đường dẫn tới cái giếng là một con rồng đang ngủ. Cái giếng là mắt của nó.”
Sau khi nói điều đó, Sư phụ bước lên phía trước chúng tôi. Sau đó người học viên lớn tuổi nói với tôi rằng: “Nhìn kìa, tiểu long mặc đồ màu hồng đang kéo y phục của Sư phụ, cùng Sư phụ chơi đùa.”
Sau đó, bà bảo tôi nhìn xung quanh xem nhiều chúng thần đang đứng cạnh bờ biển để bày tỏ sự tôn kính đối với Sư phụ, nhưng một Pháp Luân lớn màu xanh lá cây ngăn họ lại quá gần Sư phụ.
Tôi cảm thấy tệ vì thiên mục của mình bị đóng. Tôi chỉ có thể nhìn thấy biển rất yên lặng và trong xanh. Tôi cảm thấy mình không phải là một học viên tốt vì mình không nhìn được gì cả.
Đi phà vì đường bị hỏng
Tôi cảm ơn người đồng tu lớn tuổi đã hướng dẫn cho tôi và xin lỗi vì tôi không thể thấy được gì. Sau khi nói điều đó, tôi đột nhiên nhìn thấy núi Bút Giá được chiếu sáng và được bao quanh bởi một vòng sáng.
Sư phụ nói với tôi rằng: “Con đường này ban đầu được làm để mọi người có thể vượt biển. Nhưng bây giờ mọi người chỉ có thể vượt biển bằng thuyền. Con người đã phá hủy con đường.”
Chúng tôi phải đi phà để đến chân núi. Khi chúng tôi lên phà, biển êm đềm đột nhiên dậy sóng và sóng lớn làm rung chuyển phà.
Tài xế nói: “Sư phụ, Ngài đứng ở giữa, con sẽ đứng bên cạnh vì con biết bơi.” Tuy nhiên, Sư phụ tiếp tục vẫy tay về phía nước. Người học viên lớn tuổi nói với tôi rằng họ xuất hiện rất nhiều, nhưng tôi không hiểu.
Tôi bối rối và nhìn Sư phụ, Ngài nói: “Ý bà ấy nói là nhiều sinh linh [từ biển] đã xuất hiện để đón ta. Họ đang vẫy tay và nhảy múa, đó là lý do tại sao sóng lại lớn như vậy.”
Sau đó, tài xế nói với tôi rằng phà không đi trên mặt nước. Anh thấy nước đột nhiên chia làm hai nửa. Sóng lớn, cao như bức tường, bị đẩy sang bên và thuyền của chúng tôi thực sự đang di chuyển trên đỉnh của con đường.
Không có nơi nào sạch sẽ trong xã hội hiện đại
Khi đến đỉnh núi, chúng tôi đi vào trong chùa. Tôi thấy nhiều pho tượng Phật. Người học viên lớn tuổi nói với Sư phụ: “Giống như đẩy một bức tường, tất cả họ đều bị đẩy ra ngoài.”
Tôi không biết bà ấy đang nói về cái gì và rất hoang mang. Sư phụ giải thích: “Con đang lúng túng phải không? Bà ấy đang nói rằng Pháp thân của ta đã thanh lý nơi này. Bất cứ nơi nào ta đến, Pháp thân của ta sẽ thanh lý nơi đó. Trong xã hội hiện đại, không có nơi nào sạch cả.”
Bức tượng giống Long Vương như đúc
Chúng tôi đã nhìn thấy một bức tượng của Long Vương.
Sư phụ nói: “Bức tượng này nhìn giống Long Vương thật. Các nghệ nhân hẳn là đã có trải nghiệm phi thường. Một bức tượng như thế này khá hiếm trong xã hội hiện đại.”
“Nhưng than ôi, con người luôn dùng tư tưởng của người thường để hiểu về Thần. Vì vậy, họ mặc một chiếc áo choàng đỏ cho bức tượng Long Vương và tin rằng nhìn như vậy đẹp hơn. Nhưng thực tế là Long Vương có trang phục riêng của mình. Trang phục của con người tối màu vì họ mang đầy những chấp trước người thường khác nhau, những thứ đó là dơ bẩn và xấu xí trong con mắt của chúng thần.”
Hôm sau khi Sư phụ giảng bài, một người say rượu đột nhiên chen vào trong phòng hội nghị và la hét.
Sau đó, Sư phụ đã giải thích cho tôi những gì đã xảy ra vào tối hôm đó: “Một vị đạo sĩ điên đã cố gắng can nhiễu bài giảng của tôi.” Người học viên lớn tuổi bổ sung thêm rằng: “Sư phụ đã vẫy tay và một tiếng sét đã đưa ông ta đi.”
Hai ngày trước khi chúng tôi trở lại Đại Liên, tôi cảm thấy buồn khi biết rằng mình sẽ sớm phải xa Sư phụ. Sư phụ bảo tôi hãy học Pháp tốt và tu luyện tinh tấn để đạt viên mãn.
Xem tiếp phần 3
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/3/318461.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/21/153764.html
Đăng ngày 22-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
[MINH HUỆ 3-11-2015] Tiếp theo Phần 1
2. Chuyến đi cùng Sư phụ đến thành phố Cẩm Châu
Xua tan mây mưa
Trời bắt đầu mưa phùn khi chúng tôi đến con đường tới Cẩm Châu. Tôi nói với Sư phụ rằng trời đang mưa và Sư phụ hỏi: “Mưa vào mùa xuân không phải tốt sao?” Tôi nói với Ngài rằng mưa là tốt, nhưng sẽ gặp khó khăn khi lái xe trong mưa. Sư phụ mỉm cười và nói: “Tháng 4 là mùa mưa, vậy thì hãy để trời tiếp tục mưa phía sau chúng ta vậy.”
Sau khi nói chuyện với Sư phụ, tôi thấy mây nặng hơn và dường như trời đất được bao phủ bởi một tấm chăn dày màu đen. Lúc đó, Sư phụ bắt đầu chuyển hai tay và tôi biết rằng Ngài đang xoay Pháp Luân.
Không lâu sau, tấm chăn đen bị xé nhỏ, những đám mây đen lớn bắt đầu tản ra. Sau đó trong nháy mắt, mưa ngừng rơi. Tôi có thể thấy được bầu trời xanh phía trước, mặc dù những đám mây phía sau chúng tôi tối tăm mờ mịt. Thật kinh ngạc.
Người tài xế có thể nhìn được không gian khác nên đã hỏi Sư phụ những vị thần mà thỉnh thoảng xuất hiện hai bên đường là ai. Sư phụ nói với chúng tôi rằng họ là thổ địa từ các khu vực khác nhau. Họ có nhiều vì là chúng thần ở tầng thấp nhất. Một ngọn núi lớn thường có một đại thổ địa trong khi một ngọn núi nhỏ có một tiểu thổ địa, mỗi vị chịu trách nhiệm về khu vực của mình. Hôm đó họ xuất hiện để chào đón Sư phụ. Sau đó, Sư phụ nói rằng có hai con rồng đã hộ tống chúng tôi suốt từ thành phố Đại Liên.
Chúng tôi dừng lại tại một quán ăn nhỏ để ăn sáng. Trời lại bắt đầu mưa, nhưng Sư phụ đứng bên cửa sổ và xoay Pháp Luân một lần nữa. Sau chưa đến mười giây, mưa ngừng.
Sư phụ biết hướng đi
Khi tài xế xuống xe để hỏi hướng đi tới đích đến của chúng tôi, tôi thấy Sư phụ đang vẽ một bản đồ trong không trung, sau đó Ngài nói: “Đi thẳng, rẽ phải, sau đó có lẽ chúng ta sẽ đi thêm khoảng 150 mét để đến chỗ đó.”
Tài xế trở lại và nói với chúng tôi rằng chúng tôi đơn giản chỉ cần đi thẳng. Nghe vậy, tôi bắt đầu nghi ngờ liệu Sư phụ có đúng hay không. Khi chúng tôi đến một ngã tư, Sư phụ bảo tài xế rẽ phải. Sau đó khoảng 150 mét, chúng tôi đã tìm thấy Hiệp hội Khí công Cẩm Châu ở cuối đường.
Truyền cảm tư duy
Tôi hỏi Sư phụ xem liệu tôi có nên gọi cho một học viên lớn tuổi đã ở đó trước chúng tôi để bảo bà rằng chúng tôi đã đến, nhưng Sư phụ không đáp. Sau đó, tôi thấy học viên đó đang chạy tới xe của chúng tôi. Bà nói với Sư phụ rằng: “Con thấy Sư phụ rời Đại Liên, nhưng dừng lại vào khoảng 10 giờ sáng.” Tôi nói với bà rằng chúng tôi dừng để ăn sáng vào lúc 10 giờ sáng.
Bà nói: “Phải rồi. Tôi thấy mọi người đã đến gần, vậy nên tôi đã bảo các học viên khác rằng Sư phụ đến. Vừa ra đến đây thì thấy mọi người tới.”
Cuối cùng, tôi đã hiểu được Sư phụ đã liên lạc với đồng tu này bằng cách truyền cảm tư duy. Kinh ngạc, tôi nói: “Không lạ khi Sư phụ không nói gì với tôi. Bà đã được liên lạc với Sư phụ suốt chuyến đi.”
Rồng và các chúng thần
Sư phụ đến Cẩm Châu để mở lớp học chín ngày. Khi không có lớp, chúng tôi đến núi Bút Giá, một điểm du lịch nổi tiếng ở thành phố Cẩm Châu. Sư phụ và người học viên lớn tuổi kia nhìn vào cái giếng gần cổng chính một lúc lâu. Tôi cũng nhìn nhưng không thấy được gì. Sư phụ bảo học viên đó dạy tôi cách để nhìn những thứ ở trong giếng. Sư phụ nói với chúng tôi rằng: “Con đường dẫn tới cái giếng là một con rồng đang ngủ. Cái giếng là mắt của nó.”
Sau khi nói điều đó, Sư phụ bước lên phía trước chúng tôi. Sau đó người học viên lớn tuổi nói với tôi rằng: “Nhìn kìa, tiểu long mặc đồ màu hồng đang kéo y phục của Sư phụ, cùng Sư phụ chơi đùa.”
Sau đó, bà bảo tôi nhìn xung quanh xem nhiều chúng thần đang đứng cạnh bờ biển để bày tỏ sự tôn kính đối với Sư phụ, nhưng một Pháp Luân lớn màu xanh lá cây ngăn họ lại quá gần Sư phụ.
Tôi cảm thấy tệ vì thiên mục của mình bị đóng. Tôi chỉ có thể nhìn thấy biển rất yên lặng và trong xanh. Tôi cảm thấy mình không phải là một học viên tốt vì mình không nhìn được gì cả.
Đi phà vì đường bị hỏng
Tôi cảm ơn người đồng tu lớn tuổi đã hướng dẫn cho tôi và xin lỗi vì tôi không thể thấy được gì. Sau khi nói điều đó, tôi đột nhiên nhìn thấy núi Bút Giá được chiếu sáng và được bao quanh bởi một vòng sáng.
Sư phụ nói với tôi rằng: “Con đường này ban đầu được làm để mọi người có thể vượt biển. Nhưng bây giờ mọi người chỉ có thể vượt biển bằng thuyền. Con người đã phá hủy con đường.”
Chúng tôi phải đi phà để đến chân núi. Khi chúng tôi lên phà, biển êm đềm đột nhiên dậy sóng và sóng lớn làm rung chuyển phà.
Tài xế nói: “Sư phụ, Ngài đứng ở giữa, con sẽ đứng bên cạnh vì con biết bơi.” Tuy nhiên, Sư phụ tiếp tục vẫy tay về phía nước. Người học viên lớn tuổi nói với tôi rằng họ xuất hiện rất nhiều, nhưng tôi không hiểu.
Tôi bối rối và nhìn Sư phụ, Ngài nói: “Ý bà ấy nói là nhiều sinh linh [từ biển] đã xuất hiện để đón ta. Họ đang vẫy tay và nhảy múa, đó là lý do tại sao sóng lại lớn như vậy.”
Sau đó, tài xế nói với tôi rằng phà không đi trên mặt nước. Anh thấy nước đột nhiên chia làm hai nửa. Sóng lớn, cao như bức tường, bị đẩy sang bên và thuyền của chúng tôi thực sự đang di chuyển trên đỉnh của con đường.
Không có nơi nào sạch sẽ trong xã hội hiện đại
Khi đến đỉnh núi, chúng tôi đi vào trong chùa. Tôi thấy nhiều pho tượng Phật. Người học viên lớn tuổi nói với Sư phụ: “Giống như đẩy một bức tường, tất cả họ đều bị đẩy ra ngoài.”
Tôi không biết bà ấy đang nói về cái gì và rất hoang mang. Sư phụ giải thích: “Con đang lúng túng phải không? Bà ấy đang nói rằng Pháp thân của ta đã thanh lý nơi này. Bất cứ nơi nào ta đến, Pháp thân của ta sẽ thanh lý nơi đó. Trong xã hội hiện đại, không có nơi nào sạch cả.”
Bức tượng giống Long Vương như đúc
Chúng tôi đã nhìn thấy một bức tượng của Long Vương.
Sư phụ nói: “Bức tượng này nhìn giống Long Vương thật. Các nghệ nhân hẳn là đã có trải nghiệm phi thường. Một bức tượng như thế này khá hiếm trong xã hội hiện đại.”
“Nhưng than ôi, con người luôn dùng tư tưởng của người thường để hiểu về Thần. Vì vậy, họ mặc một chiếc áo choàng đỏ cho bức tượng Long Vương và tin rằng nhìn như vậy đẹp hơn. Nhưng thực tế là Long Vương có trang phục riêng của mình. Trang phục của con người tối màu vì họ mang đầy những chấp trước người thường khác nhau, những thứ đó là dơ bẩn và xấu xí trong con mắt của chúng thần.”
Hôm sau khi Sư phụ giảng bài, một người say rượu đột nhiên chen vào trong phòng hội nghị và la hét.
Sau đó, Sư phụ đã giải thích cho tôi những gì đã xảy ra vào tối hôm đó: “Một vị đạo sĩ điên đã cố gắng can nhiễu bài giảng của tôi.” Người học viên lớn tuổi bổ sung thêm rằng: “Sư phụ đã vẫy tay và một tiếng sét đã đưa ông ta đi.”
Hai ngày trước khi chúng tôi trở lại Đại Liên, tôi cảm thấy buồn khi biết rằng mình sẽ sớm phải xa Sư phụ. Sư phụ bảo tôi hãy học Pháp tốt và tu luyện tinh tấn để đạt viên mãn.
Xem tiếp phần 3
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/3/318461.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/21/153764.html
Đăng ngày 22-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp ở thành phố Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc
[MINH HUỆ 2-11-2015] Một người dân Đại Liên đã may mắn được làm tài xế cho Sư phụ Lý Hồng Chí khi Ngài đến thành phố của bà vào năm 1994 để tổ chức khóa giảng chín ngày Pháp Luân Đại Pháp lần đầu tiên. Khi bà cùng các học viên khác theo Sư phụ đến những nơi khác nhau, bà đã trải nghiệm được nhiều giây phút không thể nào quên. Dưới đây, bà kể lại những ngày trân quý mà bà được ở bên cạnh Sư phụ.
1. Lớp học đầu tiên của Sư phụ Lý Hồng Chí ở thành phố Đại Liên
Ngày 27 tháng 3 năm 1994 là ngày quan trọng và quý giá nhất trong cuộc đời tôi. Đó là ngày Sư phụ Lý Hồng Chí đến thành phố Đại Liên lần đầu tiên để dạy Pháp Luân Đại Pháp (còn gọi là Pháp Luân Công).
Lớp học đã được tổ chức ở giảng đường của Đại học Ngoại ngữ Đại Liên. Vì tôi đến rất sớm và cửa chưa mở, nên tôi đã mua một cuốn Pháp Luân Công ở một quầy sách gần đó. Tôi ngồi trên bậc cầu thang cạnh cửa và bắt đầu đọc. Ngay lập tức tôi nghĩ: “Ồ, sách hay thật! Toàn những đạo lý cao thâm mà mình chưa từng biết!” Một giờ đồng hồ tiếp theo, tôi hoàn toàn đắm mình trong cuốn sách, cho đến khi có người bảo tôi rằng đã đến lúc vào hội trường.
Một nữ khí công sư khá nổi tiếng ở Đại Liên đến cạnh tôi và nói: “Tôi không đến đây để học Pháp Luân Công, mà chỉ muốn đến xem thử. Đối với mỗi khí công sư đến Đại Liên, tôi kiểm tra xem họ là khí công sư giả hay thật. Nếu là khí công sư giả, tôi thường viết giấy hỏi để làm khó họ.”
Sư phụ Lý Hồng Chí tiến vào sân khấu. Ngài trẻ trung và cao lớn, nhìn rất thiện lương và đáng kính, giọng nói lớn. Khi nghe Sư phụ nói, tôi thấy cảm xúc mãnh liệt và nước mắt lăn dài trên mặt. Tôi lấy một chiếc khăn tay che mặt, cảm thấy xấu hổ. Điều gì xảy ra với tôi vậy? Tôi chưa từng khóc giữa đám đông như thế này!
Có lúc, tôi liếc nhìn nữ khí công sư đã nói chuyện với tôi trước đó, thấy bà ấy đang ngồi thẳng, chăm chú vào Sư phụ Lý Hồng Chí. Trong giờ nghỉ, bà lại qua nói chuyện với tôi.
Bà đã xúc động nhận xét: “Nếu bà muốn học khí công, đừng học thứ gì khác ngoài Pháp Luân Công! Tôi đã thấy công lực của đại sư Lý Hồng Chí rất lợi hại! Ngài tỏa ra rất nhiều ánh quang, giống như tia laze bắn khắp nơi!” Bà không gọi đích danh tên Sư phụ nữa mà bắt đầu sử dụng từ “Đại sư”.
Sau đó, bà muốn gặp Sư phụ và nhờ tôi giới thiệu bà. Tại sao bà lại nhờ tôi giới thiệu bà, mặc dù tôi cũng là một học viên mới? Dưới đây là một giai thoại nhỏ:
Sau ngày đầu tiên của lớp học, tôi không thể ngừng khóc và luôn muốn ở quanh Sư phụ. Tôi lái xe quanh thành phố cho đến nửa đêm để tìm khách sạn nơi Sư phụ nghỉ, nhưng tôi đã không tìm được. Vào ngày thứ hai của lớp học, tôi tiếp tục khóc và lại muốn ở gần Sư phụ. Trong giờ nghỉ, khi tôi thấy Sư phụ vào phòng bên cạnh, tôi không chút do dự đi theo.
Khi bước vào, tôi nghe Sư phụ nói: “Tôi không đi xe đó nữa; vì tài xế không tốt!”
Tôi buột miệng nói: “Sư phụ, xin hãy đi xe của con!”
Sư phụ nhìn tôi và nói: “Xe của cô được. Vậy thì đi xe của cô.”
Giáo sư Lý từ hiệp hội khí công có vẻ không vui vì tôi đã cắt ngang cuộc hội thoại, nhưng vì chúng tôi biết nhau nên ông đã không chỉ trích tôi. “Tất cả các tài xế ở Đại Liên đều muốn lái xe cho một vị đại khí công sư. Tôi đã chuẩn bị bốn chiếc xe. Thế mà…” Ông dừng lại, nhìn tôi và tiếp tục: “Vậy thì chúng ta sẽ đi xe của cô.”
Nhờ vậy, tôi đã có một cơ hội trời ban được ở gần Sư phụ!
Một ngày, một vài người tổ chức lớp học và tôi theo Sư phụ tới Công viên Tinh Hải. Vị nữ khí công sư đi một chiếc taxi theo chúng tôi đến công viên. Trong công viên, bà liên tục khoe khoang về một số trải nghiệm trước đây của bà. Sư phụ nói với chúng tôi rằng: “Những người này không thể buông bỏ những thứ của họ, vậy nên họ khó có thể được cứu.”
Ngồi trên một tảng đá bên bờ biển, Sư phụ nhặt một cành cây nhỏ và viết trên đất:
Một thời gian sau, vị nữ khí công sư mời tôi đến nhà bà và cho tôi xem một bức tranh. Bức tranh có hình một kim long bay từ dưới biển lên và một vị long nữ đang nắm râu của một con rồng.
Bà nói với tôi rằng: “Đây chính xác là nhưng gì tôi đã chứng kiến ở bờ biển vào hôm đó. Tôi đã mời một họa sĩ nổi tiếng ở Đại Liên đến nhà. Tôi miêu tả lại khung cảnh và ông ta đã vẽ lại. Tôi thấy con rồng vọt lên khỏi mặt nước, nhưng tôi vẫn tự hỏi liệu con rồng đó do tôi đưa đến hay là Sư phụ Lý Hồng Chí đã đưa chúng đến.
Tôi lập tức đáp: “Sao bà có thể nghĩ rằng con rồng đó đến vì bà được? Sư phụ đã nói rằng chúng sinh trên thiên thượng và biển ở đó đang lắng nghe Sư phụ giảng!”
Dù bà có nói gì, thì bức tranh đó quả thực đã mô tả khung cảnh trên bờ biển vào hôm đó.
Vào ngày thứ tư của lớp học, Sư phụ đã đến nhà tôi. Hàng chục học viên khác theo sau. Chúng tôi cùng nhau xem video các bài công pháp của Sư phụ. Trong video, Sư phụ mặc một bộ đồ màu vàng và ngồi trên cỏ. Sư phụ hỏi: “Nhìn xem, tôi đang ngồi ở đâu?”. Một số học viên nhìn thấy được chân tướng nói lớn: “Trên đài sen!”
Mọi người đều nhìn thấy đài sen trừ tôi. Trong tâm, tôi đổ lỗi cho thị lực của mình kém. Sư phụ hỏi tôi: “Con có thể nhìn được không?” Thấy tôi không nhìn được, Ngài tiếp tục nói: “Ta sẽ khiến đài sen di chuyển để con có thể nhìn được.”
Lúc đó thì tôi đã thấy! Sư phụ ngồi trên đài sen nhiều tầng, cánh hoa nhẹ nhàng di chuyển. Đó thực sự như một phép màu.
Sư phụ lấy một quả cà chua từ cái đĩa gần đó. Ngài lấy hai tay bọc lấy và nói: “Ai đó có thể ăn.”
Tôi nhanh đáp: “Không, đừng ăn! Xin Sư phụ để nó ở đây để chúng con có thể nhìn nó.”
Tôi đặt quả cà chua lên trên nóc TV. Để so sánh, tôi đặt một quả cà chua khác bên cạnh. Có người thốt lên: “Nhìn kìa, quả cà chua đang tỏa sáng! Có một vị tiểu Phật bên trong!” Tôi thấy một tia sáng màu xanh ngọc phát ra từ chóp quả cà chua lên tới trần nhà. Quả thực có một vị tiểu Phật đang ngồi bên trong tia sáng. Không chỉ quả cà chua tỏa sáng, mà TV và tường cũng phát ra những tia sáng màu xanh ngọc. Chúng tôi đều kinh ngạc. Tối hôm đó, tôi vẫn có thể thấy TV và toàn bộ bức tường đang tỏa ánh sáng màu xanh ngọc. Quả cà chua tiếp tục chiếu sáng, tỏa ra ánh sáng mạnh mẽ. Sau đó, khi quả cà chua bên cạnh bị nhũn, tôi thay thế nó bằng một quả cà chua tươi. Vào ngày thứ mười bảy, sau khi đổi quả cà chua kia bốn lần, quả cà chua mà Sư phụ chạm vào vẫn hoàn toàn tươi ngon. Tôi sợ rằng một ngày quả cà chua đó sẽ hỏng, vậy nên tôi đã để con tôi ăn nó. (Rõ ràng là ngộ tính của tôi rất thấp.)
Vào ngày hôm đó, Sư phụ giảng cho chúng tôi rằng vũ trụ đã bị lệch khỏi đặc tính Chân-Thiện-Nhẫn và phải đối mặt với nguy hiểm. Ngài cũng nói rằng trái đất cũng sẽ phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng và Đại Liên có còn tồn tại được hay không vẫn chưa thể xác định được. Tất cả chúng tôi đều xin Sư phụ bảo vệ Đại Liên. Sư phụ đáp: “Nếu chúng ta giữ Đại Liên, vấn đề nước của nó phải được giải quyết đầu tiên.”
Lúc đó, có một đợt hạn hán nghiêm trọng ở Đại Liên diễn ra trong nhiều năm. Việc cung cấp nước thường bị cắt. Tuy nhiên, kể từ ngày Sư phụ nói vấn đề về nước phải được giải quyết, 20 năm đã qua và Đại Liên không còn rơi vào tình trạng thiếu nước nữa.
Vào ngày thứ sáu của khóa học, giáo sư Lý đã mời Sư phụ đi thăm thành phố. Ông mang theo hai máy ảnh cùng với bốn cuộn phim. Một nhóm người đi cùng. Dọc chuyến đi, tôi thấy Sư phụ không muốn chụp ảnh với những người kia, bao gồm một số khí công sư. Tôi nghĩ rằng vì Sư phụ không muốn chụp ảnh với họ, nên ảnh sẽ không ra được. Cuối cùng, Sư phụ gọi bốn học viên chúng tôi đến và chụp hai bức ảnh cùng chúng tôi.
Sau khi phim chụp được rửa, giáo sư Lý cho tôi xem một cuộn phim chưa sử dụng. Ông nói với tôi rằng: “Thật rất lạ. Khi tôi đi rửa phim, tôi thấy một máy ảnh bị thiếu phim chụp.” Tôi cho rằng có lẽ người thân của ông đã lấy phim ra. Ông đáp: “Không thể nào, vì máy ảnh luôn ở bên tôi. Tôi đã rửa những cuộn phim khác. Nhưng xem này, chúng đều bị hỏng. Chỉ có hai tấm ảnh này là không sao.” Hai bức ảnh này là hai bức mà Sư phụ chụp cùng bốn học viên chúng tôi. Giáo sư Lý xúc động nói: “Giờ thì tôi hiểu rồi! Sư phụ Lý Hồng Chí thực sự là một vị Phật!”
Sau khi tôi mang hai tấm ảnh về nhà, tôi cẩn thận xem bức ảnh thì thấy trong một bức có hai con rồng. Bức ảnh còn lại, có một thanh bảo kiếm ở phía trên đỉnh. Tôi đề cập việc này với Sư phụ khi đưa các bức ảnh cho ngài. Tôi hỏi Ngài xem có đúng là tôi đã thấy những con rồng và thanh bảo kiếm không. Sư phụ đáp: “Chẳng phải ở Đại Liên có hai vùng biển sao? Hai long vương đang hộ Pháp khi ta đến thành phố. Thanh bảo kiếm đó là kiếm vũ trụ của ta, uy lực vô cùng.”
Một vài năm sau, trong một giấc mơ, Sư phụ cho tôi mượn thanh bảo kiếm để chiến đấu với tà ác. Thanh kiếm quả thực uy lực vô cùng. Khi tôi múa thanh kiếm một vài lần, hàng vạn tà ác lập tức giải thể vào hư không.
Một ngày, bà Tôn, chồng bà và tôi đến thăm Sư phụ. Bà Tôn nói với Sư phụ rằng bà bị bệnh tim đã nhiều năm rồi. Bà thường xuyên phải nằm viện và đã bốn lần ở trong tình trạng nguy kịch. Trong những lần đặc biệt xấu, bà thậm chí không thể nằm và phải ngồi tựa vào gối để ngủ. Sư phụ đặt bàn tay trái của ngài xuống dưới bàn. Ngài nâng bàn bằng tay trái trong khi xoay bàn tay phải. Sau đó, Sư phụ thu tay và đi ra ngoài. Tôi nói với bà Tôn rằng Sư phụ đã tịnh hóa thân thể cho bà.
Sau một lúc, Sư phụ quay lại. Ngài mỉm cười với bà Tôn và nói: “Đừng lo, bà bây giờ khỏe rồi. Bà không còn bệnh nữa, giờ bà có thể tập trung vào tu luyện rồi.” Bà Tôn đã tu luyện được hai thập kỷ. Bà chưa từng bỏ học Pháp hay luyện công. Tất nhiên, bệnh tim của bà không bao giờ còn tái phát nữa.
Tháng 4, tôi theo Sư phụ đến một quận phát triển. Trong bữa trưa, Sư phụ hỏi tôi: “Con đeo kính. Con bị cận thị à?” Tôi nói với Sư phụ rằng tôi bị cận thị. Sư phụ chỉ vào bức tranh trên tường và hỏi tôi: “Con hãy nhìn vào bức tranh kia. Con có nhìn nó được rõ không?”. Tôi nói rằng tôi không thể. Sau đó, Sư phụ xoa bóp lưng tôi từ trên xuống dưới ba lần và hỏi: “Bây giờ thì thế nào?” Tôi nói: “Con thấy tốt hơn trước rồi, nhưng vẫn không thể nhìn được rõ.”
Sau đó, Sư phụ nói với tôi rằng tôi không cần đeo kính nữa. Tôi nói với Ngài rằng không đeo kính tôi thấy không thoải mái, vì tôi đã quen sử dụng kính rồi – thêm nữa, mọi người xung quanh tôi sẽ nghĩ rằng tôi có vẻ lạ nếu đột nhiên không đeo kính. Sư phụ bảo tôi hãy đeo kính không độ. Sau cuộc hội thoại, tôi nhận thấy Sư phụ đang nhìn tôi không chớp mắt thể hiện sự không hài lòng. Tôi đột nhiên hiểu ra rằng: Sư phụ đã nói với tôi điều gì đó, nhưng tôi đang từ chối tiếp nhận. Ngộ tính của tôi quá thấp! Tôi lập tức thay đổi cách nghĩ và nói với Sư phụ rằng: “Giờ con có thể nhìn được bức tranh rồi.”
Sau đó, trong một chuyến đi đến Nhật Bản, tôi mua một cặp kính không độ đẹp. Tuy nhiên, thị lực của tôi không tốt, dù có hay không có kính. Điều này kéo dài một năm cho đến một ngày, khi tôi vô tình ngồi trên kính và chúng bị gãy làm đôi. Tôi hiểu rằng Sư phụ đang điểm hóa cho mình rằng tôi không nên đeo kính nữa. Đúng lúc đó, tôi đang đọc một mục hỏi đáp trong kinh văn của Sư phụ: một học viên hỏi về việc đeo kính và Sư phụ nói rằng việc phải đeo kính là do nghiệp.
Tôi thấy ngộ tính thấp của mình và lập tức ném kính vào thùng rác. Sau hôm đó, tôi đến nhà ga để gặp một số người. Khi nhìn quanh, tôi thấy mình có thể nhìn mọi thứ rất rõ ràng. Xúc động, tôi nhìn và nhìn. Tôi quên rằng mình định đến gặp ai đó cho đến khi người đó vỗ nhẹ vào vai tôi.
Một ngày, tôi theo Sư phụ vào phòng khách sạn của Ngài. Một tiếp tân khách sạn mở cửa phòng. Ngay khi chúng tôi bước vào phòng, TV tự động bật. Người tiếp tân rất ngạc nhiên. Tôi nhìn Sư phụ, Ngài mỉm cười và nói: “Điều này luôn xảy ra khi tôi vào một căn phòng.”
Vào ngày đầu tiên của khóa giảng, một phụ nữ bị liệt được chồng đưa đến. Các học viên gác cửa ngăn họ lại, nói với họ rằng Sư phụ ở đây để giảng Pháp, không phải để trị bệnh. Chính ngay lúc đó, Sư phụ đi ngang qua cánh cổng và nói với người học viên rằng: “Con có thể để họ vào.”
Trước khi lớp học bắt đầu, Sư phụ đã trị bệnh cho người phụ nữ. Cô ấy có thể cử động ngay lập tức! Vào lúc kết thúc lớp học cuối cùng, cô bước lên bục giảng, quỳ gối và cảm tạ Sư phụ vì đã cứu cô. Tất cả chúng tôi đã xúc động khi chứng kiến cảnh này.
Một tháng sau, một vài học viên và tôi đến thăm nhà bà. Trước đây, chúng tôi đã chứng kiến các trường hợp bệnh nhân dường như đã được các khí công sư khác chữa lành, nhưng các triệu chứng lại trở lại sau một vài ngày. Chúng tôi muốn xem bà hiện như thế nào. Bà sống trên tầng thứ năm của tòa nhà. Một hàng xóm nói với chúng tôi rằng bà không ở nhà mà đang đi tập thể dục. Theo hàng xóm, bà có thể leo cầu thang mỗi ngày và đi đến công viên địa phương để luyện công. Chúng tôi đã không đợi bà quay lại. Chúng tôi không cần phải tận mắt nhìn thấy bà. Huyền năng của Sư phụ phi thường đến nỗi các khí công sư khác không thể so sánh được.
Khi gần kết thúc khóa giảng, Sư phụ khuyến khích chúng tôi viết ra những cảm xúc và kinh nghiệm của mình về lớp học. Tôi đã viết với nước mắt lăn dài trên má. Tôi liên tục phải viết lại, nhưng ngay cả bản cuối cùng tôi vẫn để rơi một vài giọt nước mắt lên đó.
Tôi viết: “Hàng chục năm qua, tôi không biết mình đang tìm kiếm điều gì. Là danh chăng? Sau khi tôi trở thành một quản lý cấp thấp, tôi nhận ra rằng danh không phải là những gì tôi muốn. Là tiền chăng? Sau khi tôi có tiền, tôi nhận ra rằng tiền cũng không phải là những gì tôi muốn. Tôi không chắc chắn được mình muốn gì, điều đó đã khiến tôi không yên. Sau khi tham dự lớp học chín ngày Pháp Luân Đại Pháp, tôi đã tìm được những gì mình đang tìm kiếm. Sư phụ đã thay đổi thế giới quan và nhận định của tôi về cuộc sống.”
Những lời này xuất phát từ đáy lòng tôi. Sau khi lớp học ở Đại Liên kết thúc, chúng tôi đưa Sư phụ đến điểm đến tiếp theo của Ngài, Cẩm Châu. Phép màu đã xảy ra trong chuyến đi Cẩm Châu vì Sư phụ đã khai chân nhãn cho tôi.
Xem tiếp Phần 2
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/2/318460.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/20/153745.html
Đăng ngày 21-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
[MINH HUỆ 2-11-2015] Một người dân Đại Liên đã may mắn được làm tài xế cho Sư phụ Lý Hồng Chí khi Ngài đến thành phố của bà vào năm 1994 để tổ chức khóa giảng chín ngày Pháp Luân Đại Pháp lần đầu tiên. Khi bà cùng các học viên khác theo Sư phụ đến những nơi khác nhau, bà đã trải nghiệm được nhiều giây phút không thể nào quên. Dưới đây, bà kể lại những ngày trân quý mà bà được ở bên cạnh Sư phụ.
1. Lớp học đầu tiên của Sư phụ Lý Hồng Chí ở thành phố Đại Liên
Ngày 27 tháng 3 năm 1994 là ngày quan trọng và quý giá nhất trong cuộc đời tôi. Đó là ngày Sư phụ Lý Hồng Chí đến thành phố Đại Liên lần đầu tiên để dạy Pháp Luân Đại Pháp (còn gọi là Pháp Luân Công).
Lớp học đã được tổ chức ở giảng đường của Đại học Ngoại ngữ Đại Liên. Vì tôi đến rất sớm và cửa chưa mở, nên tôi đã mua một cuốn Pháp Luân Công ở một quầy sách gần đó. Tôi ngồi trên bậc cầu thang cạnh cửa và bắt đầu đọc. Ngay lập tức tôi nghĩ: “Ồ, sách hay thật! Toàn những đạo lý cao thâm mà mình chưa từng biết!” Một giờ đồng hồ tiếp theo, tôi hoàn toàn đắm mình trong cuốn sách, cho đến khi có người bảo tôi rằng đã đến lúc vào hội trường.
Một nữ khí công sư khá nổi tiếng ở Đại Liên đến cạnh tôi và nói: “Tôi không đến đây để học Pháp Luân Công, mà chỉ muốn đến xem thử. Đối với mỗi khí công sư đến Đại Liên, tôi kiểm tra xem họ là khí công sư giả hay thật. Nếu là khí công sư giả, tôi thường viết giấy hỏi để làm khó họ.”
Sư phụ Lý Hồng Chí tiến vào sân khấu. Ngài trẻ trung và cao lớn, nhìn rất thiện lương và đáng kính, giọng nói lớn. Khi nghe Sư phụ nói, tôi thấy cảm xúc mãnh liệt và nước mắt lăn dài trên mặt. Tôi lấy một chiếc khăn tay che mặt, cảm thấy xấu hổ. Điều gì xảy ra với tôi vậy? Tôi chưa từng khóc giữa đám đông như thế này!
Có lúc, tôi liếc nhìn nữ khí công sư đã nói chuyện với tôi trước đó, thấy bà ấy đang ngồi thẳng, chăm chú vào Sư phụ Lý Hồng Chí. Trong giờ nghỉ, bà lại qua nói chuyện với tôi.
Bà đã xúc động nhận xét: “Nếu bà muốn học khí công, đừng học thứ gì khác ngoài Pháp Luân Công! Tôi đã thấy công lực của đại sư Lý Hồng Chí rất lợi hại! Ngài tỏa ra rất nhiều ánh quang, giống như tia laze bắn khắp nơi!” Bà không gọi đích danh tên Sư phụ nữa mà bắt đầu sử dụng từ “Đại sư”.
Sau đó, bà muốn gặp Sư phụ và nhờ tôi giới thiệu bà. Tại sao bà lại nhờ tôi giới thiệu bà, mặc dù tôi cũng là một học viên mới? Dưới đây là một giai thoại nhỏ:
Sau ngày đầu tiên của lớp học, tôi không thể ngừng khóc và luôn muốn ở quanh Sư phụ. Tôi lái xe quanh thành phố cho đến nửa đêm để tìm khách sạn nơi Sư phụ nghỉ, nhưng tôi đã không tìm được. Vào ngày thứ hai của lớp học, tôi tiếp tục khóc và lại muốn ở gần Sư phụ. Trong giờ nghỉ, khi tôi thấy Sư phụ vào phòng bên cạnh, tôi không chút do dự đi theo.
Khi bước vào, tôi nghe Sư phụ nói: “Tôi không đi xe đó nữa; vì tài xế không tốt!”
Tôi buột miệng nói: “Sư phụ, xin hãy đi xe của con!”
Sư phụ nhìn tôi và nói: “Xe của cô được. Vậy thì đi xe của cô.”
Giáo sư Lý từ hiệp hội khí công có vẻ không vui vì tôi đã cắt ngang cuộc hội thoại, nhưng vì chúng tôi biết nhau nên ông đã không chỉ trích tôi. “Tất cả các tài xế ở Đại Liên đều muốn lái xe cho một vị đại khí công sư. Tôi đã chuẩn bị bốn chiếc xe. Thế mà…” Ông dừng lại, nhìn tôi và tiếp tục: “Vậy thì chúng ta sẽ đi xe của cô.”
Nhờ vậy, tôi đã có một cơ hội trời ban được ở gần Sư phụ!
Một ngày, một vài người tổ chức lớp học và tôi theo Sư phụ tới Công viên Tinh Hải. Vị nữ khí công sư đi một chiếc taxi theo chúng tôi đến công viên. Trong công viên, bà liên tục khoe khoang về một số trải nghiệm trước đây của bà. Sư phụ nói với chúng tôi rằng: “Những người này không thể buông bỏ những thứ của họ, vậy nên họ khó có thể được cứu.”
Ngồi trên một tảng đá bên bờ biển, Sư phụ nhặt một cành cây nhỏ và viết trên đất:
“công năng bản tiểu thuậtSau đó, Sư phụ nói với chúng tôi về Pháp. Hôm đó, tôi nhận thấy mặt biển nhìn rất lạ: sóng đánh vào khu vực gần chúng tôi, nhưng bề mặt biển ở phía xa rất lặng. Sư phụ nói với chúng tôi rằng: “Hôm nay, tôi không chỉ giảng Pháp cho chư vị. Nhiều chúng sinh trên thiên thượng và dưới biển ở đây cũng được nghe.” Lúc đó, tôi mới chỉ tham gia vài bài giảng của Sư phụ, vì vậy tôi không hoàn toàn hiểu Ngài nói gì. Nhưng vì tôi tin mỗi lời Sư phụ nói đều là thật, nên tôi đã lắng nghe!
Đại Pháp thị căn bản”
(Cầu Chính Pháp Môn, Hồng Ngâm)
Tạm dịch:
Cầu chính Pháp môn
công năng là thuật nhỏ
Đại Pháp là căn bản
Một thời gian sau, vị nữ khí công sư mời tôi đến nhà bà và cho tôi xem một bức tranh. Bức tranh có hình một kim long bay từ dưới biển lên và một vị long nữ đang nắm râu của một con rồng.
Bà nói với tôi rằng: “Đây chính xác là nhưng gì tôi đã chứng kiến ở bờ biển vào hôm đó. Tôi đã mời một họa sĩ nổi tiếng ở Đại Liên đến nhà. Tôi miêu tả lại khung cảnh và ông ta đã vẽ lại. Tôi thấy con rồng vọt lên khỏi mặt nước, nhưng tôi vẫn tự hỏi liệu con rồng đó do tôi đưa đến hay là Sư phụ Lý Hồng Chí đã đưa chúng đến.
Tôi lập tức đáp: “Sao bà có thể nghĩ rằng con rồng đó đến vì bà được? Sư phụ đã nói rằng chúng sinh trên thiên thượng và biển ở đó đang lắng nghe Sư phụ giảng!”
Dù bà có nói gì, thì bức tranh đó quả thực đã mô tả khung cảnh trên bờ biển vào hôm đó.
Vào ngày thứ tư của lớp học, Sư phụ đã đến nhà tôi. Hàng chục học viên khác theo sau. Chúng tôi cùng nhau xem video các bài công pháp của Sư phụ. Trong video, Sư phụ mặc một bộ đồ màu vàng và ngồi trên cỏ. Sư phụ hỏi: “Nhìn xem, tôi đang ngồi ở đâu?”. Một số học viên nhìn thấy được chân tướng nói lớn: “Trên đài sen!”
Mọi người đều nhìn thấy đài sen trừ tôi. Trong tâm, tôi đổ lỗi cho thị lực của mình kém. Sư phụ hỏi tôi: “Con có thể nhìn được không?” Thấy tôi không nhìn được, Ngài tiếp tục nói: “Ta sẽ khiến đài sen di chuyển để con có thể nhìn được.”
Lúc đó thì tôi đã thấy! Sư phụ ngồi trên đài sen nhiều tầng, cánh hoa nhẹ nhàng di chuyển. Đó thực sự như một phép màu.
Sư phụ lấy một quả cà chua từ cái đĩa gần đó. Ngài lấy hai tay bọc lấy và nói: “Ai đó có thể ăn.”
Tôi nhanh đáp: “Không, đừng ăn! Xin Sư phụ để nó ở đây để chúng con có thể nhìn nó.”
Tôi đặt quả cà chua lên trên nóc TV. Để so sánh, tôi đặt một quả cà chua khác bên cạnh. Có người thốt lên: “Nhìn kìa, quả cà chua đang tỏa sáng! Có một vị tiểu Phật bên trong!” Tôi thấy một tia sáng màu xanh ngọc phát ra từ chóp quả cà chua lên tới trần nhà. Quả thực có một vị tiểu Phật đang ngồi bên trong tia sáng. Không chỉ quả cà chua tỏa sáng, mà TV và tường cũng phát ra những tia sáng màu xanh ngọc. Chúng tôi đều kinh ngạc. Tối hôm đó, tôi vẫn có thể thấy TV và toàn bộ bức tường đang tỏa ánh sáng màu xanh ngọc. Quả cà chua tiếp tục chiếu sáng, tỏa ra ánh sáng mạnh mẽ. Sau đó, khi quả cà chua bên cạnh bị nhũn, tôi thay thế nó bằng một quả cà chua tươi. Vào ngày thứ mười bảy, sau khi đổi quả cà chua kia bốn lần, quả cà chua mà Sư phụ chạm vào vẫn hoàn toàn tươi ngon. Tôi sợ rằng một ngày quả cà chua đó sẽ hỏng, vậy nên tôi đã để con tôi ăn nó. (Rõ ràng là ngộ tính của tôi rất thấp.)
Vào ngày hôm đó, Sư phụ giảng cho chúng tôi rằng vũ trụ đã bị lệch khỏi đặc tính Chân-Thiện-Nhẫn và phải đối mặt với nguy hiểm. Ngài cũng nói rằng trái đất cũng sẽ phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng và Đại Liên có còn tồn tại được hay không vẫn chưa thể xác định được. Tất cả chúng tôi đều xin Sư phụ bảo vệ Đại Liên. Sư phụ đáp: “Nếu chúng ta giữ Đại Liên, vấn đề nước của nó phải được giải quyết đầu tiên.”
Lúc đó, có một đợt hạn hán nghiêm trọng ở Đại Liên diễn ra trong nhiều năm. Việc cung cấp nước thường bị cắt. Tuy nhiên, kể từ ngày Sư phụ nói vấn đề về nước phải được giải quyết, 20 năm đã qua và Đại Liên không còn rơi vào tình trạng thiếu nước nữa.
Vào ngày thứ sáu của khóa học, giáo sư Lý đã mời Sư phụ đi thăm thành phố. Ông mang theo hai máy ảnh cùng với bốn cuộn phim. Một nhóm người đi cùng. Dọc chuyến đi, tôi thấy Sư phụ không muốn chụp ảnh với những người kia, bao gồm một số khí công sư. Tôi nghĩ rằng vì Sư phụ không muốn chụp ảnh với họ, nên ảnh sẽ không ra được. Cuối cùng, Sư phụ gọi bốn học viên chúng tôi đến và chụp hai bức ảnh cùng chúng tôi.
Sau khi phim chụp được rửa, giáo sư Lý cho tôi xem một cuộn phim chưa sử dụng. Ông nói với tôi rằng: “Thật rất lạ. Khi tôi đi rửa phim, tôi thấy một máy ảnh bị thiếu phim chụp.” Tôi cho rằng có lẽ người thân của ông đã lấy phim ra. Ông đáp: “Không thể nào, vì máy ảnh luôn ở bên tôi. Tôi đã rửa những cuộn phim khác. Nhưng xem này, chúng đều bị hỏng. Chỉ có hai tấm ảnh này là không sao.” Hai bức ảnh này là hai bức mà Sư phụ chụp cùng bốn học viên chúng tôi. Giáo sư Lý xúc động nói: “Giờ thì tôi hiểu rồi! Sư phụ Lý Hồng Chí thực sự là một vị Phật!”
Sau khi tôi mang hai tấm ảnh về nhà, tôi cẩn thận xem bức ảnh thì thấy trong một bức có hai con rồng. Bức ảnh còn lại, có một thanh bảo kiếm ở phía trên đỉnh. Tôi đề cập việc này với Sư phụ khi đưa các bức ảnh cho ngài. Tôi hỏi Ngài xem có đúng là tôi đã thấy những con rồng và thanh bảo kiếm không. Sư phụ đáp: “Chẳng phải ở Đại Liên có hai vùng biển sao? Hai long vương đang hộ Pháp khi ta đến thành phố. Thanh bảo kiếm đó là kiếm vũ trụ của ta, uy lực vô cùng.”
Một vài năm sau, trong một giấc mơ, Sư phụ cho tôi mượn thanh bảo kiếm để chiến đấu với tà ác. Thanh kiếm quả thực uy lực vô cùng. Khi tôi múa thanh kiếm một vài lần, hàng vạn tà ác lập tức giải thể vào hư không.
Một ngày, bà Tôn, chồng bà và tôi đến thăm Sư phụ. Bà Tôn nói với Sư phụ rằng bà bị bệnh tim đã nhiều năm rồi. Bà thường xuyên phải nằm viện và đã bốn lần ở trong tình trạng nguy kịch. Trong những lần đặc biệt xấu, bà thậm chí không thể nằm và phải ngồi tựa vào gối để ngủ. Sư phụ đặt bàn tay trái của ngài xuống dưới bàn. Ngài nâng bàn bằng tay trái trong khi xoay bàn tay phải. Sau đó, Sư phụ thu tay và đi ra ngoài. Tôi nói với bà Tôn rằng Sư phụ đã tịnh hóa thân thể cho bà.
Sau một lúc, Sư phụ quay lại. Ngài mỉm cười với bà Tôn và nói: “Đừng lo, bà bây giờ khỏe rồi. Bà không còn bệnh nữa, giờ bà có thể tập trung vào tu luyện rồi.” Bà Tôn đã tu luyện được hai thập kỷ. Bà chưa từng bỏ học Pháp hay luyện công. Tất nhiên, bệnh tim của bà không bao giờ còn tái phát nữa.
Tháng 4, tôi theo Sư phụ đến một quận phát triển. Trong bữa trưa, Sư phụ hỏi tôi: “Con đeo kính. Con bị cận thị à?” Tôi nói với Sư phụ rằng tôi bị cận thị. Sư phụ chỉ vào bức tranh trên tường và hỏi tôi: “Con hãy nhìn vào bức tranh kia. Con có nhìn nó được rõ không?”. Tôi nói rằng tôi không thể. Sau đó, Sư phụ xoa bóp lưng tôi từ trên xuống dưới ba lần và hỏi: “Bây giờ thì thế nào?” Tôi nói: “Con thấy tốt hơn trước rồi, nhưng vẫn không thể nhìn được rõ.”
Sau đó, Sư phụ nói với tôi rằng tôi không cần đeo kính nữa. Tôi nói với Ngài rằng không đeo kính tôi thấy không thoải mái, vì tôi đã quen sử dụng kính rồi – thêm nữa, mọi người xung quanh tôi sẽ nghĩ rằng tôi có vẻ lạ nếu đột nhiên không đeo kính. Sư phụ bảo tôi hãy đeo kính không độ. Sau cuộc hội thoại, tôi nhận thấy Sư phụ đang nhìn tôi không chớp mắt thể hiện sự không hài lòng. Tôi đột nhiên hiểu ra rằng: Sư phụ đã nói với tôi điều gì đó, nhưng tôi đang từ chối tiếp nhận. Ngộ tính của tôi quá thấp! Tôi lập tức thay đổi cách nghĩ và nói với Sư phụ rằng: “Giờ con có thể nhìn được bức tranh rồi.”
Sau đó, trong một chuyến đi đến Nhật Bản, tôi mua một cặp kính không độ đẹp. Tuy nhiên, thị lực của tôi không tốt, dù có hay không có kính. Điều này kéo dài một năm cho đến một ngày, khi tôi vô tình ngồi trên kính và chúng bị gãy làm đôi. Tôi hiểu rằng Sư phụ đang điểm hóa cho mình rằng tôi không nên đeo kính nữa. Đúng lúc đó, tôi đang đọc một mục hỏi đáp trong kinh văn của Sư phụ: một học viên hỏi về việc đeo kính và Sư phụ nói rằng việc phải đeo kính là do nghiệp.
Tôi thấy ngộ tính thấp của mình và lập tức ném kính vào thùng rác. Sau hôm đó, tôi đến nhà ga để gặp một số người. Khi nhìn quanh, tôi thấy mình có thể nhìn mọi thứ rất rõ ràng. Xúc động, tôi nhìn và nhìn. Tôi quên rằng mình định đến gặp ai đó cho đến khi người đó vỗ nhẹ vào vai tôi.
Một ngày, tôi theo Sư phụ vào phòng khách sạn của Ngài. Một tiếp tân khách sạn mở cửa phòng. Ngay khi chúng tôi bước vào phòng, TV tự động bật. Người tiếp tân rất ngạc nhiên. Tôi nhìn Sư phụ, Ngài mỉm cười và nói: “Điều này luôn xảy ra khi tôi vào một căn phòng.”
Vào ngày đầu tiên của khóa giảng, một phụ nữ bị liệt được chồng đưa đến. Các học viên gác cửa ngăn họ lại, nói với họ rằng Sư phụ ở đây để giảng Pháp, không phải để trị bệnh. Chính ngay lúc đó, Sư phụ đi ngang qua cánh cổng và nói với người học viên rằng: “Con có thể để họ vào.”
Trước khi lớp học bắt đầu, Sư phụ đã trị bệnh cho người phụ nữ. Cô ấy có thể cử động ngay lập tức! Vào lúc kết thúc lớp học cuối cùng, cô bước lên bục giảng, quỳ gối và cảm tạ Sư phụ vì đã cứu cô. Tất cả chúng tôi đã xúc động khi chứng kiến cảnh này.
Một tháng sau, một vài học viên và tôi đến thăm nhà bà. Trước đây, chúng tôi đã chứng kiến các trường hợp bệnh nhân dường như đã được các khí công sư khác chữa lành, nhưng các triệu chứng lại trở lại sau một vài ngày. Chúng tôi muốn xem bà hiện như thế nào. Bà sống trên tầng thứ năm của tòa nhà. Một hàng xóm nói với chúng tôi rằng bà không ở nhà mà đang đi tập thể dục. Theo hàng xóm, bà có thể leo cầu thang mỗi ngày và đi đến công viên địa phương để luyện công. Chúng tôi đã không đợi bà quay lại. Chúng tôi không cần phải tận mắt nhìn thấy bà. Huyền năng của Sư phụ phi thường đến nỗi các khí công sư khác không thể so sánh được.
Khi gần kết thúc khóa giảng, Sư phụ khuyến khích chúng tôi viết ra những cảm xúc và kinh nghiệm của mình về lớp học. Tôi đã viết với nước mắt lăn dài trên má. Tôi liên tục phải viết lại, nhưng ngay cả bản cuối cùng tôi vẫn để rơi một vài giọt nước mắt lên đó.
Tôi viết: “Hàng chục năm qua, tôi không biết mình đang tìm kiếm điều gì. Là danh chăng? Sau khi tôi trở thành một quản lý cấp thấp, tôi nhận ra rằng danh không phải là những gì tôi muốn. Là tiền chăng? Sau khi tôi có tiền, tôi nhận ra rằng tiền cũng không phải là những gì tôi muốn. Tôi không chắc chắn được mình muốn gì, điều đó đã khiến tôi không yên. Sau khi tham dự lớp học chín ngày Pháp Luân Đại Pháp, tôi đã tìm được những gì mình đang tìm kiếm. Sư phụ đã thay đổi thế giới quan và nhận định của tôi về cuộc sống.”
Những lời này xuất phát từ đáy lòng tôi. Sau khi lớp học ở Đại Liên kết thúc, chúng tôi đưa Sư phụ đến điểm đến tiếp theo của Ngài, Cẩm Châu. Phép màu đã xảy ra trong chuyến đi Cẩm Châu vì Sư phụ đã khai chân nhãn cho tôi.
Xem tiếp Phần 2
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/2/318460.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/20/153745.html
Đăng ngày 21-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Hồi ức về lịch sử: Xoay chuyển càn khôn
Tác giả: Ngô Long Phi
[Chanhkien.org]
Văn minh Trung Hoa đã trải qua 5000 năm lịch sử.
Từ thuở Bàn Cổ khai thiên lập địa đến thời Tam Hoàng Ngũ Đế, lịch sử thời kỳ thượng cổ được lưu truyền qua những câu chuyện truyền thuyết. Lịch sử thời trung cổ bắt đầu từ triều đại nhà Hạ, qua mỗi một triều đại, lịch sử lại không ngừng được người đời sau thêm thắt, chỉnh lý, và được ghi chép lại trong các thể loại sách cổ như kinh điển, lịch sử, chư tử, văn tập, các tiểu thuyết thời Minh Thanh và các ghi chú của người xưa. Lịch sử hiện đại bắt đầu từ khi kết thúc triều đại nhà Thanh cho đến hiện nay.
Con người ngày nay do hạn chế về cảnh giới tư tưởng và nhận thức khoa học nên vẫn ôm giữ một thái độ nửa tin nửa ngờ đối với lịch sử cổ đại. Là người tu luyện, chúng ta biết rằng lịch sử quá khứ là do các đệ tử Đại Pháp khai sáng, nhưng trong quá trình phát triển của lịch sử chân thực, do sự can nhiễu của cựu thế lực mà lịch sử đã không còn hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của Chính Pháp tương lai nữa. Hơn nữa, trí huệ của cựu vũ trụ chỉ có thể cứu độ phó nguyên thần, cho nên lịch sử được cựu vũ trụ tạo ra này, người tu luyện chủ nguyên thần không nhất định có thể hiểu được, bởi vì nó không xảy ra tại thế giới mà chủ nguyên thần của chúng ta sinh sống, quá trình lịch sử đó trải qua tại không gian mà phó nguyên thần tồn tại.
Đại Pháp tạo ra vũ trụ và lịch sử sinh tồn của chúng sinh trong vũ trụ.
Tại tầng thứ tu luyện của mình, tôi nhìn thấy vũ trụ này có một bộ lịch sử chân thực, đó chính là quá trình Chính Pháp mà Sư phụ khai sáng.
Trong quá trình tu luyện, ký ức của người tu luyện sẽ có thể dần dần được khai mở, những ký ức được khai mở này là hình thức công năng túc mệnh thông, cho phép chúng ta nhìn lại những sự kiện từng xảy ra trong lịch sử, tuy nhiên do sự tham dự của cựu thế lực mà những sự kiện này nếu như trong lịch sử thật sự có tồn tại thì cũng không còn thuần chính nữa.
Sau triều đại nhà Hạ, triều đình lập ra chức sử quan để ghi chép lại sự thay đổi của thiên tượng, địa lý, nhưng do mọi việc nhân sự trong triều đình đều do quân vương quyết định, nên các văn bản ghi chép cũng vì mục đích che giấu lỗi lầm của quân vương mà bớt đi tính chân thực. Là người tu luyện Đại Pháp, chúng ta cần phải nhìn nhận lịch sử một cách chính xác, những dữ kiện lịch sử mà chúng ta từng biết, dù là sự gợi ý từ không gian khác hay là đọc từ những ghi chép trong sách sử thời xưa, cũng không phải là lịch sử hoàn toàn thuần chính nữa. Đó là lịch sử được cựu vũ trụ dựng lên để phó nguyên thần tu luyện trong quá khứ. Quá trình Chính Pháp đã tu chính lại lịch sử bất thuần và bị bóp méo, đó là yêu cầu và sự đảm bảo cho cho vũ trụ hướng tới tương lai.
Quá trình chính Pháp là sự triển hiện lịch sử chân thực của vũ trụ.
Lịch sử như chuyển luân, xuân hạ thu đông, tuần hoàn lặp đi lặp lại. Lịch sử lại giống như quỹ đạo của hành tinh khi băng qua bầu trời đầy sao, vật lý học gọi là chu kỳ xoay chuyển của hành tinh. Nhìn từ góc độ tu luyện thì lịch sử vận hành chiểu theo quy luật của vũ trụ, thuận theo đặc tính của vũ trụ. Cổ nhân gọi là quan sát thiên tượng, thuận theo trời mà hành sự. Nếu như lệch khỏi quỹ đạo thì cần phải điều chỉnh lại, vật lý học gọi là tự xoay, nhìn từ góc độ tu luyện thì chính là hướng nội tu, vứt bỏ các tâm chấp trước của bản thân. Như vậy, trên thiên thượng sẽ không xảy ra va chạm, nơi con người cũng sẽ không có xung đột.
Triều đại nhà Thanh là triều đại hoàng đế cuối cùng, việc Khang Hy truyền ngôi [cho Ung Chính] vẫn luôn là điều bí ẩn trong lịch sử.
Muốn hiểu rõ một sự việc thì phải nhìn từ góc độ Chính Pháp, bởi vì hết thảy mọi thứ trong lịch sử đều đến vì Chính Pháp. Nếu muốn hiểu rõ nguyên nhân thật sự của sự việc này thì cần phải nhìn lại toàn bộ lịch sử của triều Thanh.
Người sáng lập ra nhà Thanh là Nô Nhĩ Cáp Xích, người xây dựng triều Thanh là Hoàng Thái Cực, người đưa nhà Thanh lên làm chủ vùng đất Trung Nguyên là Đa Nhĩ Cổn.
Năm 1583, Nô Nhĩ Cáp Xích kế thừa chức vụ Tả vệ chỉ huy sứ Kiến Châu Nữ Chân, ông đã dùng 13 bộ giáp sắt của cha để lại để trang bị cho binh lính.
Năm 1616, Nô Nhĩ Cáp Xích xây dựng đất nước ở Hách Đồ A Lạp gọi là Hãn, lịch sử gọi là hậu Kim.
Ngũ hành thuận chuyển, kim sinh thủy.
Năm 1636, Hoàng Thái Cực định tên tộc là Mãn Châu, đổi quốc hiệu thành Thanh.
Năm 1642, Hồng Thừa Trù bị bắt làm tù binh ở thành Tùng Sơn, sau đó giúp quân lính nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên, rồi ông an định ở Giang Nam, xoa dịu mâu thuẫn giữa Mãn Thanh và dân tộc Hán.
Năm 1643, Hoàng Thái cực qua đời vì bệnh, Thuận Trị kế vị, Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính.
Lúc đó quân Thanh vẫn chưa tiến vào Trung Nguyên.
Năm 1644, Đa Nhĩ Cổn phá được quan Sơn Hải, chỉ huy quân Thanh tiến vào Trung Nguyên, từ đó triều đại nhà Thanh thống lĩnh Trung Nguyên.
Phó xuất bao nhiêu thì được bấy nhiêu, sự phát triển của lịch sử cũng không nằm ngoài quy luật này.
Đời trước của Khang Hy là Nô Nhĩ Cáp Xích.
Lần đầu tiên tôi chuyển sinh đến Trung Quốc là vào triều Thanh.
Thông qua công năng túc mệnh thông, lịch sử mà tôi nhìn thấy có hai tình huống, tình huống thứ nhất là tôi đứng ngoài cuộc, tôi nhìn thấy một chiếc đĩa lớn đang chuyển động, tình tiết trong phim chuyển động theo chiếc đĩa đó, tôi có thể biết được suy nghĩ của mỗi nhân vật trong phim, tôi cũng có thể biết tư tưởng của tôi trong phim đang nghĩ gì. Tình huống thứ hai là tôi đứng trong cuộc, tôi của hiện thực và tôi của quá khứ hợp thành một thể.
Sở dĩ tôi biết được Sư phụ chuyển sinh thành Nô Nhĩ Cáp Xích là do tôi đã nhìn thấy một cảnh tượng: Tôi là một đứa trẻ mới chào đời không lâu, nhưng ý thức lại vô cùng thanh tỉnh, khi đó tôi ngủ trong một cái lều lớn. Tôi có thể biết được nơi đây là miền bắc Trung Quốc, từng cơn gió lạnh thổi dưới chân lều, Nô Nhĩ Cáp Xích đang nghiên cứu địa đồ cùng với mấy tướng lĩnh để chuẩn bị tác chiến.
Nhìn từ góc độ tu luyện cá nhân, Hồng Thừa Trù là phân thân của Hoàng Thái Cực, phân thân không phải là chủ thể, phân thân cũng phân biệt chủ nguyên thần và phó nguyên thần. Điều này có thể giải thích vì sao Hồng Thừa Trù khi bị bắt ở thành Tùng Sơn đã nhiều lần không chịu hàng, nhưng sau khi gặp Hoàng Thái Cực liền nói: “Ngài là chủ sinh mệnh của tôi tại thế gian”, rồi khấu đầu xin hàng.
Hồng Thừa Trù thực ra là đầu hàng bản thân mình, không hổ thẹn với danh dự phẩm hạnh của mình, người đời sau không biết sự việc chân thực nên đã thêm thắt, đoán mò để tạo dựng câu chuyện về ông.
Trong một đời đồng thời chuyển sinh thành mấy người, khai sáng lịch sử, kết duyên cùng chúng sinh.
Nhờ có nhiều công lao xây dựng triều Đại Thanh trong đời trước, nên đời này Khang Hy được lên ngôi hoàng thượng khi mới tám tuổi, nhìn từ góc độ tu luyện thì chính là nhờ tích đức đời trước mà đời sau được thừa hưởng.
Người đời sau rất khó hiểu việc Khang Hy truyền ngôi vua [cho Ung Chính], giới sử học đã đưa ra nhiều giả thuyết suy đoán, nhưng đều không đủ sức thuyết phục và cũng còn nhiều sơ hở. Cũng có không ít bộ phim khai thác chủ đề này, nhưng đều không có cái nhìn thấu đáo và sâu sắc đứng trên giác độ lịch sử. Từ góc độ tu luyện mà xét thì chính là chúng sinh muốn biết sự thật lịch sử.
Trước tiên chúng hãy tìm hiểu về Ung Chính [con trai của Khang Hy], người đã chào đời và tu luyện trong tiệm ngộ.
Trong bài viết “Ung Chính quay lại thế gian để đắc Pháp”, một đệ tử trẻ tự xưng là Ung Chính chuyển sinh ở Đài Loan và kết duyên với một phi tần của ông. Theo tôi đoán, vị đệ tử trẻ này đời trước ở Trung Quốc đã tu luyện trong Phật giáo, sau khi khai ngộ liền biết được bản thân mình chính là Dận Chân (tên húy của Ung Chính), nhưng anh không biết mình chỉ là một phó nguyên thần, vì để kết duyên với quý phi này nên đã chuyển sinh đến Đài Loan. Do anh đã tu hành khai ngộ trong một đời gần nhất, nên đời này anh được tu luyện trong tiệm ngộ, anh chính là Ung Chính – vị hoàng đế siêng năng, cần kiệm nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.
Trong bài “Hồi tưởng quá khứ, trân quý hôm nay” và “Nguồn gốc của quốc hiệu Đại Thanh”, có một đồng tu nói rằng anh là Ngạch Diệc Đồ, đã từng phò tá Nô Nhĩ Cáp Xích đi chinh chiến, sau khi chết, nguyên thần ly thể trở về núi Côn Luân, chúng Thần an bài xong kịch bản thì cho anh chuyển sinh thành hoàng đế Ung Chính [trong lịch sử của một không gian đặc định]. Vị Ung Chính chuyển thế này chỉ để hưởng phúc báo, không được phú cho tài trị quốc.
Tôi chưa từng gặp hai người cùng xưng là Ung Chính này, điều này nói lên rằng tôi và họ không có duyên và cũng không có ân oán gì. Nguyên thần của họ khi xưa và chủ nguyên thần đời này của tôi không ở trong cùng một không gian. Trong quá trình tu luyện chính Pháp, tôi đã biết có ba vị Ung Chính.
Hồi ức về mối duyên phận giữa tôi và Khang Hy
Lần này tôi nhìn thấy một cảnh tượng có chính mình trong đó: Khang Hy và Thập Tứ A Ca đều đội mũ vàng, mặc áo giáp vàng, trông vô cùng oai phong, lẫm liệt. Họ cưỡi ngựa tiến lên phía trước.
Cảnh tượng này gắn với sự kiện lịch sử Thập Tứ A Ca được phong làm Đại tướng quân vương, lúc đó ông đang cùng phụ hoàng tiến lên trước duyệt binh.
Thập Tứ A Ca nhìn thấy cảnh cờ quạt bay phấp phới, áo giáp binh đao khí thế rợp trời, lại có phụ hoàng đi cùng nên trong lòng cảm thấy rất tự hào: “Ta sẽ một tay nắm toàn bộ binh quyền, quét sạch thiên hạ, để trở thành bậc đế vương.” Khang Hy bỗng quay đầu lại nói với Thập Tứ A Ca: “Đời này con phải phò tá Tứ A Ca [Dận Chân].” Thập Tứ A Ca vô cùng kinh ngạc: “Sao phụ hoàng lại biết trong lòng ta nghĩ gì nhỉ?”
Lặng người một lúc, Thập Tứ A Ca quan sát kỹ phụ hoàng, một luồng thiện niệm trào dâng trong tâm, rồi hóa thành một chữ “hiếu”. Bách thiện hiếu vi tiên (Trăm điều thiện, hiếu là đầu tiên).
Trong lịch sử thời thượng cổ, Sư phụ từng là vua Nghiêu. Còn đời trước của Thập Tứ A Ca Dận Trinh là Đa Nhĩ Cổn, trong lịch sử xa xôi hơn nữa, ông là vua Thuấn nổi tiếng với lòng hiếu thuận. Thiện niệm về phương diện hiếu thuận của ông rất mạnh, nên chỉ cần chút điểm hóa là ông liền hiểu ra và tuân theo.
Khang Hy là một người đã khai ngộ, ông có công năng có túc mệnh thông và tha tâm thông, ông biết được đời trước của Thập Tứ A Ca là ai. Đại tướng quân vương là một danh hiệu rất đặc biệt.
Đoạn lịch sử này không có nhà sử học nào biết được, cũng không có ai ghi chép.
Khi đó Tứ A Ca Dận Chân cũng không biết Khang Hy đã an bài như vậy. Đời đó ông là một người tu luyện, hơn nữa là người tu luyện trong tiệm ngộ. Ông cho rằng sứ mệnh của đời này là chiểu theo an bài kế thừa ngôi vua.
Khi đó mọi người đều tu luyện phó nguyên thần, và vẫn chưa có khái niệm cựu thế lực. Chiểu theo an bài đó mà làm, ông cho rằng không sai.
Ngày 13 tháng 11 năm 1722, Khang Hy qua đời tại Sướng Xuân Viên.
Trong giới sử học có lưu truyền câu chuyện như thế này, kể rằng [Tứ A Ca] Dận Chân dẫn theo con trai Hoằng Lịch đến gặp Khang Hy tại Sướng Xuân Viên, Khang Hy rất thích Hoằng Lịch nên ông đồng ý để Dận Chân lên ngôi [hiệu là Ung Chính]. Thực ra sự việc này là có thật, còn lý do là hư cấu, Khang Hy biết được rằng Hoằng Lịch sẽ kế vị Ung Chính.
Ngày 13 tháng 11 năm 1722, Dận Chân ba lần tiếp kiến thỉnh an Khang Hy, Khang Hy không công khai tuyên bố Dận Chân là người kế vị hợp pháp.
Dận Chân mang vào một bát canh sâm. Sự việc này người đời sau vĩnh viễn không hiểu được.
Vua Khang Hy tinh thông y đạo, ông nghiên cứu rất sâu về y học và dược học, ông biết bốc thuốc và vẫn luôn phản đối dùng nhân sâm để bồi bổ, nhưng ông đã uống hết bát canh sâm này. Bởi vì Sư phụ muốn cứu độ đệ tử Đại Pháp trong tương lai.
Mãi đến cuối cùng, lịch sử vẫn đang khảo nghiệm tâm tính của Tứ A Ca, Tứ A Ca đời đó là người tu luyện và là tu luyện phó nguyên thần.
Khang Hy qua đời không lưu lại di chiếu chỉ định Tứ A Ca kế vị, cả trong các văn tự Mãn Thanh và Trung văn đều không lưu lại. Cái được gọi là di chiếu của Khang Hy được lưu lại là ngụy tạo. Ông cũng không có khẩu dụ về việc truyền ngôi.
Tất cả những chỗ mê của lịch sử đều cần giải quyết trong quá trình Chính Pháp.
Trong quá trình Chính Pháp, cựu thế lực muốn Sư phụ lưu lại ở nước Pháp, nhưng Ngài lại đến Mỹ quốc.
Bí ẩn lịch sử được tiết lộ
Khi còn ở Trung Quốc, tôi đã nhìn thấy một số cảnh tượng mà dựa vào đó có thể phán đoán rằng tôi là chủ nguyên thần của Thập Tứ A Ca Dận Trinh.
Lúc đó, tôi ở cùng với một vài đồng tu, họ đời trước đều từng là các hoàng tử của Khang Hy. Tôi có thể xác định được họ là Bát A Ca, Cửu A Ca, Tứ A Ca. Tứ A Ca trong đời này là nữ, tôi biết cô ấy là phó nguyên thần của Tứ A Ca năm xưa, một phó nguyên thần tinh thông Phật pháp. Về sau trong quá trình tu luyện, tôi nhìn thấy được lai lịch của cô ấy là một vị vương của một đại khung to lớn, hơn nữa lại là chân thân của một người nổi tiếng trong Phật giáo. Cũng vì sự xuất hiện của cô, tôi mới nhìn thấy cảnh tượng triều đại nhà Thanh, ký ức của tôi được khai mở là để giúp đỡ, bảo hộ cô ấy đến nước Mỹ.
Trong lịch sử, vị đồng tu này đã có duyên với tôi, cô ấy chính là Tứ A Ca [Dận Chân] mà Sư phụ muốn tôi phò tá. Tuy nhiên, còn có hai cảnh tượng mà tôi vẫn chưa ngộ được hết. Một cảnh tượng là ngôi hoàng thượng của triều Thanh tách ra làm hai nửa, rồi dần dần hợp thành một. Quả thực sau khi Tứ A Ca lên ngôi kế vị, ông đã tạo ra sự chia cắt trong triều đình nhà Thanh.
Tuy nhiên, quá trình Chính Pháp đang cải chính lại đoạn lịch sử này. Trên con đường tu luyện Chính Pháp mà Sư phụ an bài, chúng ta đã nối tiếp duyên phận và lý giải lại đoạn lịch sử này.
Lịch sử lặp lại như xuân hạ thu đông, nhưng không hoàn toàn lặp lại tất cả.
Sau khi gặp lại các vị A Ca đó, tôi đã có một giấc mơ rất kỳ lạ, trong mơ Sư phụ nói với tôi: “Biến hóa của thiên tượng đã diễn ra rồi, con có thể đến nước Mỹ.” Lúc đó, chín đại hành tinh trong phạm vi tam giới đã hình thành một biến hóa của thiên tượng, mắt thường có thể nhìn thấy. Thiên nhân hợp nhất. Khi đó tôi vẫn chưa ngộ ra điều này.
Mấy năm sau, tôi đến Mỹ, khi được trực tiếp nghe Sư phụ giảng Pháp tôi mới thật sự hiểu ra, những việc mà đệ tử Đại Pháp làm trong người thường đều đối ứng và thúc đẩy sự biến hóa của thiên tượng.
Một cảnh tượng khác là khi tôi ở Mỹ, tôi nhìn thấy rất nhiều đệ tử Đại Pháp ở trên sân khấu đang chuẩn bị cho một buổi biểu diễn, lúc này trên không trung có tiếng Pháp âm vang dội của Sư phụ truyền đến, phần lớn mọi người đều nghe được rằng: “Màn kịch lớn 5000 năm, Thần Vận đã mở màn.” Nhưng tôi lại nghe thấy một hàm ý khác, bỗng dưng tôi hiểu được hàm ý của việc vua Khang Hy truyền ngôi vị và việc tên của các hoàng tử khi xưa đều có chữ Dận.
Lúc này, một đồng tu ở bên cạnh hỏi tôi: “Anh vừa nghe thấy Sư phụ nói gì vậy? Có phải anh nghe thấy hàm ý khác trong lời Sư phụ nói không?” Người hỏi tôi câu này lại cũng là Tứ A Ca trong lịch sử, theo tôi phán đoán thì vị này là chủ nguyên thần của Tứ A Ca.
Tôi nói với anh ấy: “Ý nghĩa mà tôi nghe thấy giống với anh nghe thấy.” Anh ấy lại nói với tôi: “Hai người chúng ta kết làm huynh đệ nhé!” Tôi lập tức hiểu ra, anh ấy đã từng chuyển sinh thành Lưu Bang. Tôi liền nói với anh: “Đời này tôi không thể kết huynh đệ với anh được, hãy tu luyện cho tốt nhé.”
Dù tôi biết sinh mệnh của anh ấy chính là chủ nguyên thần của Tứ A Ca, nhưng trước đây tôi lại chưa từng gặp anh.
Sinh mệnh quả thực vô cùng phức tạp, một chủ nguyên thần có đến bốn hoặc năm phó nguyên thần. Chủ nguyên thần và phó nguyên thần tồn tại trong các không gian khác nhau, diễn những vai diễn khác nhau, và cũng kết những mối nhân duyên khác nhau.
Sau khi nhân duyên đời trước kết thúc, lúc chuyển sinh lại dựa vào các mối nhân duyên gặp gỡ khác nhau để thực hiện những nguyện ước đã lập trong lịch sử. Qua câu chuyện này có thể ngộ được rằng một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử có thể chuyển sinh thành mấy người trong đời này, giống như có đến mấy vị Ung Chính đã đề cập ở trên.
Do đó, rất nhiều học viên nói rằng mình từng là người nổi tiếng nào đó trong lịch sử, kỳ thực có phải là người đó hay không, cần căn cứ vào quá trình tu luyện Chính Pháp và sứ mệnh lịch sử mà người đó gánh vác để phán đoán. Vậy thì lý do tại sao những câu chuyện về luân hồi hay những tình huống thực tế mà các đệ tử Đại Pháp gặp phải lại không giống với những ghi chép trong sử sách chính thống, người thường không hiểu Pháp lý thì khó mà lý giải được.
Thời kỳ đầu tu luyện, tôi còn gặp những chuyện kỳ lạ hơn, ví như tôi biết có năm vị Nhạc Vân, hai vị Đường Huyền Tông, hai vị Triệu Vân, hai vị Hạng Vũ, hai vị Dương Ngọc Hoàn, ba vị Hằng Nga, bốn vị Tôn Đại Thánh.
Nhạc Vân thứ nhất mà tôi biết là một phụ nữ ở Vũ Hán, Trung Quốc. Nhạc Vân thứ hai là Tiểu Liên. Nhạc Vân thứ ba là một vị đồng tu làm trong ngành truyền thông. Nhạc Vân thứ tư nghe nói ở Canada.
Bản thân tôi cũng từng chuyển sinh thành Nhạc Vân. Khi đó, tôi nghĩ mãi mà không ra, thậm chí chạy đến không gian khác hỏi Sư phụ: “Con không hiểu sao một người trong lịch sử lại đồng thời chuyển sinh thành mấy người trong hiện tại? Rốt cuộc làm thế nào để phân biệt chủ nguyên thần?”
Sư phụ trả lời bằng một nụ cười.
Nhờ học Pháp mà tôi đã hiểu ra và phân biệt được.
Tôi từng nhìn thấy ba cảnh tượng, cảnh thứ nhất là khi mới bắt đầu tu luyện, buổi tối tôi thường nằm mơ thấy Sư phụ, Ngài dẫn tôi về quê nhà ở Thương Dương. Nhìn thấy khung cảnh thân quen đó, chiếc giường gỗ mà tôi từng ngủ trên đó, không kìm được nỗi chua xót trong tâm mà nước mắt tuôn trào. Đó là ngôi nhà nghèo khổ, thanh đạm của Nhạc gia.
Cảnh tượng thứ hai là trong lúc tôi đạt trạng thái tiệm ngộ cao độ, khi đả tọa nguyên thần ly thể đột phá lên không gian cao tầng, thật ra chính là trở về nhà nơi thiên thượng. Ở tầng thứ rất cao tôi nhìn thấy Sư phụ, bên cạnh Ngài còn có tám vị Đại kim cương, một người trong đó hợp thập nói với Sư phụ: Á Vân Đế đã trở về.
Sư phụ nói với tôi: “Cuối cùng thì con đã trở về, hãy về thăm nhà trước đi.”
Tôi liền tiến nhập vào không gian ấy: đó là một thế giới huy hoàng, tráng lệ. Có năm vị đế vương chủ trì, đối ứng với ngũ đế trong Tam hoàng ngũ đế ở nhân gian. Từ trong cảnh giới đó nhìn xuống bên dưới, 5000 năm lịch sử nhìn thấy trong một cái liếc mắt.
Lúc này Sư phụ lại nói với tôi: “Con vẫn phải tu lên trên.”
Lần đó trong trạng thái tiệm ngộ cao độ, tôi biết được Pháp danh của tôi trong một cảnh giới trên thiên thượng là Á Vân Đế, đối ứng với một vị vương trong Tam hoàng ngũ đế tại cõi nhân gian. Trong lịch sử luân hồi tôi từng chuyển sinh thành Triệu Vân, Nhạc Vân và Cao Vân, trong không gian khác đối ứng với Vân Long.
Tôi được an bài hạ thế chiểu theo một câu đối: Vân Long xung thiên cao.
Lần thứ ba tôi nhìn thấy mình và Sư phụ vào thời Nam Tống, trong một đại sảnh với những cột trụ gỗ trạm trổ hoa văn, Nhạc Vân nói với Nhạc Phi: “Hiện giờ phụ thân tu hành ra sao rồi?” Nhạc Phi nói: “Tiền vô cổ nhân” (xưa nay chưa từng có ai đạt được như ta).
Nhạc Vân nói: “Phụ thân có đạo đức, tâm tính cao thượng, công phu cao thâm, thần thông quảng đại, phụ thân có thể trảm hết những tham quan nịnh thần trong triều đình. Cớ sao cứ phải nhẫn chịu chứ?”
Nhạc Phi trầm ngâm không nói, lát sau mới trả lời: “Con nên đọc những điều ghi chép trong kinh Phật.”
Nhạc Vân nghĩ trong lòng: “Kinh Phật thì có liên quan gì đến mình, triều đình đang hỗn loạn vậy mà không ai có thể trị được sao?”
Cảnh tượng thay đổi, tiểu binh dắt ngựa, Nhạc Vân cưỡi ngựa ra khỏi phủ.
Lúc này tôi thấy một cảnh tượng rất gần: một người trẻ tuổi ăn mặc giống thợ săn, trốn trong một rừng cây ven đường, đang giương cung muốn ám sát Nhạc Vân. Tôi thấy được cảnh tượng này thông qua công năng túc mệnh thông, tôi trong không gian hiện thực hiểu rất rõ rằng: người này là một con cóc tinh đầu thai thành, đời này hắn ta chuyển sinh thành người để tìm Nhạc Vân báo thù.
Lúc này trong rừng cây lại hiện ra ba vị lão Đạo, họ là sư phụ trong đời trước của Nhạc Vân, đời này họ đến để bảo hộ ông.
Mấy vị lão Đạo chỉ tay về phía binh sĩ dắt ngựa cho Nhạc Vân, người binh sĩ đó tự dưng cứ chạy tới chạy lui, vừa khéo che mất tầm ngắm của con cóc tinh.
Người ngoài cuộc nhìn thì thấy là an bài, người trong cuộc thì cho là ngẫu nhiên.
Cóc tinh không còn cách nào khác đành hạ cung tên, nhìn Nhạc Vân dần dần đi xa.
Câu chuyện mà tôi thông qua tu luyện nhìn thấy này không hề được ghi chép lại trong lịch sử.
Xem xong, tôi cảm thấy bùi ngùi, lịch sử không đơn giản như biểu hiện bề mặt, Nhạc Phi năm xưa tâm tính đã vô cùng cao, bây giờ nhìn lại, lúc đó ông đã đạt đến cảnh giới rất cao, ông biết được tất cả những việc mình làm đều là vì để lưu lại văn hóa cho vũ trụ. Hơn nữa, bên cạnh Nhạc Vân lại có nhiều cao nhân bảo hộ ông, mà bản thân ông cũng không biết.
Quá trình phát triển của lịch sử nếu không có sự bảo hộ của Thần thì cũng không thể bước đi đến bước cuối cùng được. Xem ra trong quá trình lịch sử tưởng chừng giản đơn, có biết bao nhiêu sinh mệnh đang tham dự vào mà chúng ta có thể nhìn thấy hoặc không.
Vậy thì người nào trong quá trình Chính Pháp đã chứng thực Pháp và triển hiện hết thảy những gì của lịch sử, thì người đó chính là sinh mệnh nguyên thủy thực sự. Chỉ có Sư phụ – người khai sáng con đường tu luyện Chính Pháp – mới có thể nhìn rõ hết thảy. Cũng chỉ có tu luyện Đại Pháp mới có thể biết rõ được mọi bí ẩn của những ân oán trong lịch sử.
Thiên địa phục minh, chân tướng đại hiển
Sự việc này đã được cựu thế lực an bài hoàn chỉnh, nhờ học Pháp mà tôi biết được.
Đồng tâm lai thế gianTrong quá trình Chính Pháp, Sư phụ dần dần khai mở ký ức của tôi, cho tôi biết được trước khi hạ thế tôi đã nghe Sư phụ giảng Pháp trên thiên thượng, định ra những việc cần làm trong thời kỳ Chính Pháp. Những việc nơi người thường là chiểu theo an bài tiên thiên mà làm. Nhận thức và lý giải đối với Pháp cũng có nhân tố tiên thiên bên trong đó.
Đắc Pháp dĩ tại tiên
(“Liễu nguyện”, Hồng Ngâm)
Dịch nghĩa:
Cùng một tâm ý đến thế gian
Trước đây đã đắc Pháp
(“Hoàn tất thệ nguyện”, Hồng Ngâm)
Trong cảnh giới tu luyện của tôi, Chuyển Pháp Luân là Pháp, đồng thời cũng là quá trình lịch sử viên dung của vũ trụ thành trụ hoại diệt.
Triều Thanh trong lịch sử hiện nay là nước Pháp.
Năm 1972, một nhà máy ở Pháp nhập khẩu quặng uranium ấy. (“Bài giảng thứ nhất”, Chuyển Pháp Luân)Câu này đã nói lên lai lịch của triều Thanh trong giai đoạn lịch sử đó.
Trong quá trình tu luyện Chính Pháp, ở Đại Lục tôi đã gặp Tứ A Ca, Ngũ A Ca, Bát A Ca và Cửu A Ca. Ở Indonexia tôi gặp Tam A Ca. Tam A Ca năm xưa bận rộn với công việc bên ngoài, đời này anh ấy vẫn chuyên chú vào việc chỉnh lý các câu chuyện văn hóa Thần truyền.
Từ Pháp chúng ta có thể biết được, sinh mệnh ngoài chủ nguyên thần ra còn có phó nguyên thần, một sinh mệnh đã làm sự việc cụ thể gì trong lịch sử, thì chính người đó phải gánh vác trách nhiệm tương ứng.
Có rất nhiều điều đã thất truyền; có rất nhiều điều không thất truyền, đang lưu truyền trong dân gian. (“Bài giảng thứ bảy”, Chuyển Pháp Luân)Lịch sử luôn lấy hình thức nào đó để bảo tồn chân tướng.
Ung Chính chết, xác thực là do Lã Tứ Nương giết.
Thức thần tử, nguyên thần sinh. (Chú giải của người biên tập: “Nguyên thần” là phó nguyên thần, “thức thần” chỉ chủ nguyên thần.)
Đây là lịch sử của Phong Thần diễn nghĩa do cựu vũ trụ khai sáng.
Đại Pháp phá bỏ hết thảy chỗ mê
Đa Nhĩ Cổn là người có công lao to lớn trong việc đưa Đại Thanh vào làm chủ Trung Nguyên, nhưng vào thời của Ung Chính ông lại bị cầm tù, buồn rầu, khổ não, sống cô quạnh đến hết đời. Sau đó ông chuyển sinh đến đảo Corse của Pháp làm chỉ huy pháo binh, rồi lên làm hoàng đế nước Pháp. Ông là phó nguyên thần của Napoleon Bonaparte. Điều này cũng đã được thừa nhận ở phương tây.
Trong lúc tôi ngồi đả tọa đã nhìn thấy thiên sứ hát về giai đoạn lịch sử này, tiếng hát như sau: “Lịch sử của Thánh kinh bảo tồn 2.000 năm, giờ đây được mở ra vì ngài.”
Sau đó tôi nhìn thấy cảnh tượng mình chuyển sinh ở phương tây: Napoleon Bonaparte đội chiếc mũ hình thuyền đang chỉ huy chiến đấu.
Năm 2014, tôi đến nước Pháp, đứng trước phần mộ của Napoleon Bonaparte tại điện Invalides, chấm dứt mối ân oán thời nhà Thanh.
Lịch sử thiên cổ như nước chảy, vật đổi sao dời ngay trước mắt, vứt bỏ ân oán vì chúng sinh, đời này ta là người tu luyện.
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/2015/08/09/147171.记忆中的历史——倒转乾坤.html
Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016
Bài viết của học viên từ Trung Quốc Đại lục
[MINH HUỆ 8-11-2015]
Con xin kính chào Sư phụ tôn kính! Chào các bạn đồng tu!
Kể từ khi Pháp hội Trung Quốc trên Minh Huệ bắt đầu vào năm 2008, đây là lần thứ sáu tôi tham gia. Mỗi lần viết một bài chia sẻ Pháp hội, tôi đều không thể cầm được nước mắt. Không lời nào có thể bày tỏ cảm ân của tôi đối với sự từ bi của Sư phụ!
1. Những thay đổi sau 11 năm
Tháng 3 năm 1999, tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp và hầu hết thời gian tôi phải tu luyện một mình. Theo thời gian, tôi cũng gặp gỡ các bạn đồng tu, nhưng vì môi trường của tôi liên tục thay đổi, nên rất khó để chúng tôi hợp thành một nhóm. Tinh tấn học và ghi nhớ Pháp đã giúp tôi tiếp tục tu luyện. Nhờ Sư phụ và Pháp mà tôi mới có thể bước đi được tới ngày hôm nay.
Bắt đầu vào tháng 4 năm 2005, thông qua việc học thuộc sách Chuyển Pháp Luân và các sách Đại Pháp khác, Sư phụ đã gia trì cho tôi. Trong 11 năm qua, trạng thái tu luyện, cũng như công việc và môi trường sống của tôi, đã thay đổi đáng kể.
Đó là một khoảng thời gian rất khó khăn đối với tôi khi lần đầu tiên tôi bắt đầu học thuộc Pháp. Tại địa phương, tôi bị “giám sát nhà riêng”. Trước đó, tôi đã bị giam giữ phi pháp trong sáu tháng, chịu tra tấn cả về thể chất lẫn tinh thần, để lại hậu quả rất nghiêm trọng về sức khỏe. Khi đó, tôi chỉ mới 30 tuổi, nhưng đã bị đau ngực và dạ dày đến mức tôi không thể ngồi được trong hơn hai giờ đồng hồ. Tôi cũng bị ho và đau ở một bên chân.
Vì đức tin của mình vào Pháp Luân Công, tôi đã bị đuổi việc và không có thu nhập. Tôi sống dựa vào khoản thu nhập ít ỏi của bố và chút tiền tiết kiệm của mình. Cả năm, tôi đã sống dựa vào khoản tiền chưa đến 50 nhân dân tệ.
Bức hại mà tôi đã chịu đựng cùng những lời dối trá của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã khiến gia đình tôi hiểu sai về Đại Pháp, vì vậy họ đã không ủng hộ tôi tu luyện. Tôi đã không tu luyện tốt và cảm thấy xấu hổ vì điều đó. Tôi có tâm sợ hãi và nó mạnh đến nỗi chỉ một tiếng ồn nhỏ bên ngoài cũng có thể khiến tôi run rẩy.
Giờ đây, sau 11 năm, tinh thần của tôi phấn chấn và sức khỏe đã được phục hồi. Mặc dù đã hơn 40 tuổi, tôi nhìn như đang ở tuổi 20. Tình hình tài chính cũng được cải thiện, tôi làm quản lý cho một tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng. Tôi được ông chủ đánh giá cao và đồng nghiệp kính trọng. Tôi có thu nhập ổn định và có thể mua nhà ở khu vực trung tâm thành phố. Tôi cũng mua một ngôi nhà đẹp cho bố mẹ mình.
Nhiều người trong gia đình đã thay đổi thái độ đối với Đại Pháp từ thù hận thành biết ơn. Tất cả họ đều đã thoái xuất khỏi ĐCSTQ và các tổ chức liên đới của nó, bố và em gái tôi cũng đã đọc sách Chuyển Pháp Luân và một số sách Đại Pháp khác. Đầu năm nay, mẹ tôi đã bắt đầu tu luyện. Nhiều năm trước đây, bà cũng đã chăm chỉ giúp tôi nói cho nhiều người về vẻ đẹp của Pháp Luân Đại Pháp rồi.
Ngoài công việc, đối với tu luyện của bản thân, tôi dành 7 hoặc 8 giờ đồng hồ hàng ngày để làm ba việc mà Sư phụ yêu cầu.
Tháng 6 năm nay, khi các học viên bắt đầu khởi kiện Giang Trạch Dân, tôi cũng tham gia và gửi văn bản pháp lý của mình tới Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao và Tòa án Nhân dân Tối cao. Hai ngày sau, tôi nhận được biên lai xác nhận rằng họ đã nhận đơn kiện.
2. Tiêu trừ nghiệp lực và tăng cường chính niệm thông qua học thuộc Pháp
Tất cả những kết quả tích cực này đến từ việc học thuộc Pháp hàng ngày, điều đó đã giúp tôi bước thẳng tiến và vững chắc trên con đường tu luyện của mình.
Không lâu sau khi tôi bắt đầu học thuộc Pháp, các can nhiễu, như tiếng ồn từ bên ngoài, đã biến mất. Trong khi học thuộc Pháp, không gian của tôi trở nên trong sáng. Nhiều lần, tôi đã nhìn thấy những cảnh tượng đẹp, bao gồm cảnh toàn không gian phủ đầy hoa sen. Quan trọng hơn, quá trình học thuộc Pháp cũng là quá trình tiêu trừ nghiệp lực và tăng cường chính niệm.
Ban đầu, thật khó khi tôi bắt đầu học thuộc Pháp. Tôi có nhiều triệu chứng không thoải mái trong đầu cũng như tất cả các chủng tư tưởng bất hảo.
Khi đó, tôi trở nên rất tập trung cho năm đầu tiên học thuộc Pháp. Pháp triển hiện cho tôi thấy nội hàm từng tầng từng tầng. Sau một năm, tôi đã học thuộc cuốn sách. Tuy nhiên, sau đó tôi gặp nhiều khó khăn để giữ tập trung. Khi tôi nhẩm Pháp, tôi thậm chí thường không biết được mình có đang nhẩm đúng từ không và không có người để tôi có thể nhờ nghe và sửa giúp tôi. Tình huống này kéo dài gần một năm, tôi đã gặp khó khăn và không biết làm sao để đột phá.
Cuối năm 2006, tôi đã có thể tiết kiệm đủ tiền để mua một chiếc máy tính. Tôi quyết định chép lại sách Chuyển Pháp Luân vào máy tính dựa trên trí nhớ của mình, và kiểm tra lại với sách sau mỗi đoạn. Tôi sẽ sửa bất kỳ lỗi nào mà mình đã mắc. Tình trạng đã tốt hơn so với trước, nhưng tôi vẫn không thể thực sự tập trung. Tôi có thể cảm thấy có thứ gì đó chặn ở trong đầu, cứng như thép, thứ đó đã ngăn Pháp nhập vào sâu trong đầu tôi. Tình huống này kéo dài khoảng hai năm.
Sau đó, tôi cảm thấy cách này quá chậm. Tôi đã mất ba tháng để gõ xong một lượt cuốn sách. Tôi thường quên nhiều lỗi mà tôi đã sửa sau ba tháng. Vậy nên, tôi đã quay lại nhẩm Pháp. Sau vài tháng đã có hiệu quả tốt, nhưng sau đó chỗ bị tắc nghẽn trong đầu tôi cảm giác giống như một khối u đang phát triển phía sau mũi. Khi đang học thuộc Pháp tôi cảm thấy vô cùng khó chịu. Tôi không thể tập trung được, nhưng tôi biết mình cần đề cao tâm tính. Tôi đã có thể đối đãi với bản thân như một người tu luyện trong cuộc sống hàng ngày khi ở trong các mâu thuẫn và có thể cảm nhận được các chấp trước của mình đang giảm dần. Nhưng khối vật chất cứng như thép vẫn còn đó.
Sau đó, tôi trải qua khổ nạn lớn nhất trong tu luyện của mình, kéo dài từ nửa cuối năm 2011 cho đến nửa đầu năm 2013. Khổ nạn này đã khuấy động tất cả những quan niệm và tư tưởng bất hảo của tôi. Tôi không thể nhẩm Pháp và lúc học Pháp tôi cảm thấy khó khăn hơn. Tôi cảm thấy oán hận và có những tư tưởng trả thù, chấp trước vào tình và thậm chí ham muốn danh lợi.
Trong suốt thời gian này, tôi thường dành hai đến ba giờ đồng hồ để học Pháp, nhưng tôi đã phải vật lộn để đọc xong thậm chí chỉ hai trang sách. Tôi cảm thấy mình đang bị hủy hoại đến đỉnh điểm. Tôi đã quỳ trước ảnh Sư phụ hết lần này đến lần khác, cầu xin Sư phụ giúp đỡ. Nhiều lần, Sư phụ xuất hiện trong giấc mơ, điểm hóa, khích lệ và an ủi tôi. Tôi thấy Sư phụ loại bỏ những vật chất xấu trong đầu mình – những cục máu tươi và máu đen, thịt thối rữa, vật chất đen có hình thù kỳ dị, những con sâu trắng gầy, và kén sâu non, v.v..
Khi tỉnh dậy, tôi có thể xác định được tư tưởng bất hảo nào không phải bản thân mình và nên bị loại bỏ. Trong suốt thời gian này, mặc dù thống khổ và trạng thái tu luyện đi xuống, nhưng tôi vẫn không buông lơi việc học thuộc Pháp. Tôi biết rằng học Pháp mỗi ngày là cách duy nhất để tôi có thể vượt qua khổ nạn này. Một khoảng thời gian, trạng thái tu luyện của tôi thật sự tệ, tôi không ra ngoài phát tài liệu giảng chân tướng, thay vào đó, tôi tham gia vào một số hạng mục trên mạng và viết bài. Sư phụ đã thấy tâm của tôi và an bài cho tôi các hạng mục phù hợp hơn. Khả năng tập trung của tôi trong khi học Pháp đã được cải thiện nhiều.
Giờ đây, tôi đã vượt qua được khổ nạn. Sư phụ đã dẫn dắt để tôi tìm được cách học Pháp phù hợp cho mình. Tôi đọc và nhẩm Pháp trong đầu hai hoặc ba giờ đồng hồ mỗi ngày.
3. Tìm được chân ngã thông qua học Pháp
Mặc dù, tình hình kinh tế của tôi lúc đầu khá tệ, không có học viên nào khác trong khu vực, điều khó khăn nhất đối với tôi là những tư tưởng biến dị mà cựu thế lực đã rót vào đầu. Điều này khiến tôi đau đớn và thống khổ vô cùng. Nó không chỉ là đố kỵ, thù hận và hiển thị; mà còn có nhiều dạng vật chất dơ bẩn khác.
Nếu tôi mất cảnh giác dù chỉ giây lát, chúng sẽ nổi lên và kiểm soát tôi. Chúng đặc biệt gây khó khăn cho tôi khi đang học thuộc Pháp.
Vậy nên vào thời gian này, dù đã dành nhiều giờ đồng hồ để học thuộc Pháp, nhưng tôi không nhớ được bất cứ điều gì. Tôi cảm thấy mình giống như người thường. Khi đối mặt với mâu thuẫn, tôi thường không nhớ được mình là người tu luyện. Tôi không thể nói được điều gì là đúng và điều gì là sai. Tôi không thể phân biệt được đâu là chân ngã của mình và đâu là do cựu thế lực an bài. Tuy nhiên, cuối cùng tôi đã học cách để phân biệt.
Tôi nhớ hướng nội, và từng chút một lần lượt loại bỏ các chấp trước của mình. Dần dần, tôi có thể thấy được chân ngã của mình. Tôi cảm thấy rằng tôi – chủ ý thức của mình – bé như một hạt vừng bị chôn sâu ở trong Nê hoàn cung. Đầu tôi đầy những chấp trước con người như những ngọn núi khổng lồ đang đè lên chủ ý thức của tôi bên dưới. Trong một đoạn thời gian, khi tôi đang học thuộc Pháp và hướng nội, tôi thường có thể thấy được trạng thái này bằng chủ ý thức của mình. Trong lúc học Pháp, chủ ý thức của tôi lớn dần lên như thể hạt vừng đó đang nảy mầm.
Sau vô số những vật lộn và thống khổ, vào một ngày trong lúc học Pháp, tôi thấy chủ ý thức của mình đang phá vỡ những ngọn núi, vốn giờ đây đầy các vết nứt gãy. Khi tôi học thuộc Pháp, các ngọn núi bị một lực mạnh mẽ phá hủy. Từng lớp từng lớp vật chất bất hảo bị phá hủy. Tôi cảm thấy nó sắp bị tiêu hủy hoàn toàn, [trong khi] lúc đầu, chúng là những ngọn núi lớn trong khi tôi chỉ nhỏ như một hạt vừng.
Giờ đây, tình huống là ngược lại, tôi to lớn trong khi những ngọn núi đang đổ nát. Tôi biết rằng miễn là mình tiếp tục nỗ lực học thuộc Pháp và làm tốt ba việc, một ngày nào đó những ngọn núi sẽ biến mất.
4. Tranh thủ thời gian để làm ba việc
Đối với các học viên đang làm việc toàn thời gian, thu xếp để có đủ thời gian chứng thực Pháp là một sự thử thách. Tôi cũng không ngoại lệ. Ngoài công việc của mình, tôi dành sáu tới tám giờ đồng hồ để học Pháp, luyện công, phát chính niệm và làm các hạng mục cứu người. Vào cuối tuần, tôi đặt tâm vào làm ba việc. Hơn chục năm qua, tôi đã bỏ bữa sáng. Lúc đầu là để tiết kiệm tiền, nhưng sau đó lại thành thói quen. Vậy nên, tôi vẫn tiếp tục bỏ bữa sáng để tiết kiệm tiền và thời gian. Tôi thường ăn trưa ở nơi làm việc. Vào buổi tối, tôi không mất thời gian để nấu ăn. Thay vào đó, tôi ăn bánh bao, bánh dẹt hoặc một tô mì nấu vội. Vào cuối tuần, tôi nấu một chút cháo hoặc mì. Tôi không bao giờ nấu ăn quá một lần trong ngày, nhờ vậy mà có thể dành nhiều thời gian hơn cho ba việc.
Từ ngày tu luyện Đại Pháp, tôi dần hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời mình. Giờ đây tôi đã có mục đích sống. Từ khi trưởng thành tới lúc trung niên, tôi tu luyện và không tham gia vào các hoạt động của người thường như xem phim, ăn diện, trang điểm, hẹn hò hay đi du lịch. Tôi không quan tâm đến những thứ đó. Tôi giữ cho mình cái tâm hướng thượng.
Không gì có thể so sánh được với những gì tôi đã đắc thông qua tu luyện và niềm vui mà Đại Pháp đã ban cho tôi!
Con xin cảm tạ Sư phụ từ bi! Cảm ơn các bạn đồng tu!
(Pháp hội Trung Quốc trên Minh Huệ lần thứ 12)
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/11/8/318650.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/11/16/153693.html
Đăng ngày 08-12-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)