Thứ Ba, ngày 09 tháng 12 năm 2014

Thành Cổ Hồi Sinh

 Thành cổ hồi sinh


 Tác giả: Khải Hàng




[Chanhkien.org] Mùa hè tháng 7 năm 2011, tôi cùng chồng và con gái đi Đại Liên một chuyến, và lưu lại ở đó trong hai ngày rưỡi. Trong phút chốc nhìn ra biển lớn, bất giác trong lòng tôi gợi lên một cảm giác vui vẻ và tràn đầy thoải mái. Trong tâm tôi phát ra âm thanh: Ta đến rồi! Cảm giác đó vừa tinh xảo tế nhị lại vừa thân thiết, nhưng tôi lại không lý giải được vì sao lại thế.
Khi đến Đại Liên là buổi chiều, sáng sớm hôm sau trong khi phát chính niệm, tôi nhìn thấy một con nhện to, tôi biết rõ tên của nó là “Phong Đỉnh Vương”, tôi đã nhanh chóng tiêu diệt nó. Sáng hôm sau nữa, khi phát chính niệm, tôi thấy hai binh sĩ mặc áo giáp đang trao đổi công việc, và nhìn thấy Cổ Bảo (thành cổ). Tôi chứng kiến cảnh lớp băng chấn động vỡ ra, rồng cổ ngàn năm từ trong băng vụt nhảy ra, nói: “Cuối cùng ngài cũng đã đến! Ta đợi ngài rất lâu rồi!” Mấy lần phát chính niệm trong ngày hôm đó, tôi nhiều lần nhìn thấy thành cổ, thành nhỏ rất cổ rất cổ, có kiến trúc hình chữ nhật, đỉnh nhọn cao cao, màu vàng với phong cách cổ xưa. Tôi biết rằng nơi Đại Liên này trong quá khứ xa xôi đã từng xây dựng thành cổ nhỏ.
Một đoạn ký ức xa xôi mà xót xa trong lòng được mở ra từ đây.
Từ tầng giữa của đại khung vũ trụ trở xuống (đây là điều nhìn thấy trong tầng thứ cá nhân), có một thế giới thiên quốc gọi là Kính Tâm thế giới, là một thế giới thiên quốc do Phật Chủ trong khi lưu lại ở tầng thứ này đã khai sáng ra. Hình tượng mà Phật Chủ thể hiện tại tầng thứ này là Kính Tâm Pháp Vương. Kính Tâm Pháp Vương có pháp tướng trang nghiêm, trên thân phát ra hào quang nhu hòa, màu vải không ngừng biến ảo, trên đỉnh đầu ngài có một viên bảo châu to tròn cứng và long lanh. Bảo châu này và Pháp Vương tâm ý tương thông, nó được gọi là Cảm Tri Bảo Châu.
Khi Kính Tâm thế giới mới được khai sáng, Pháp Vương tuyên giảng Pháp lý cho chúng sinh trong thế giới của ngài. Ngài làm thủ ấn nhu hòa và huyền diệu, khi làm thủ ấn, thế tay đại liên hoa vừa xuất hiện, bảo châu trên đầu liền cảm nhận được sự huyền diệu của Pháp lý, phóng ra ánh hào quang tuyệt đẹp, bao nhiêu thứ tinh hoa trong ánh hào quang rời khỏi bảo châu, hình thành một tấm gương dựng đứng trong không trung, có thể hiện ra cảnh đẹp của đại khung vũ trụ, triển hiện ra vô hạn những huyền cơ. Khi chúng sinh nhìn vào tấm gương này, những cảnh quan nhìn thấy đều không giống nhau, trong tâm có những niềm vui khác nhau. Pháp Vương dùng thủ ấn nói với chúng sinh: “Gương này gọi là Dưỡng Tâm Thần Kính, tâm động thì gương động, gương tùy theo tâm mà biến hóa, có thể chiếu thấy tâm của người xem.” Chúng sinh biết được điều này đều hết sức ngạc nhiên, Pháp Vương lại tiếp tục làm thủ ấn, trên không trung xuất hiện Lưu Ly Bảo Trản (chén lưu ly), Gương Thần di chuyển lên trên Bảo Trản, Gương Thần và Bảo Trản cùng phát ra ánh sáng, chúng sinh lại có thêm niềm vui vô hạn.
Gương Thần do hai đồng tử ngồi phía dưới Pháp Vương trông coi. Hai đồng tử này là nam đồng tử và nữ đồng tử khoảng 11 – 12 tuổi, nam đồng tử tên là Mộc Đồng, nữ đồng tử tên là Mã Đồng, trên người mặc quần áo phát ra ánh sáng màu xanh lam, tâm thái vui tươi và thuần khiết. Hai đồng tử thường hay lau chùi Bảo Trản và Gương Thần, Gương Kính thỉnh thoảng cũng chơi đùa với hai đồng tử.
Rồi một hôm, Kính Tâm Pháp Vương tuyên giảng Phật Pháp, ngài làm thủ ấn rất lâu, thủ ấn cuối cùng có nghĩa là: “Ta sẽ đích thân hạ thế để chính Pháp, cứu độ vô lượng chúng sinh khỏi hoại diệt…” Hai đồng tử và chúng Thần quỳ bái trước Pháp Vương, chuẩn bị cùng ngài đi xuống.
Lúc đó Gương Thần hiển hiện điều dị thường, còn phát ra âm thanh. Chúng Thần chăm chú nhìn Gương Thần, chỉ thấy trên Gương Thần xuất hiện một giọt nước mắt. Pháp Vương hiểu được ý của Gương Thần cũng muốn đi xuống, nhưng ở Pháp giới, Gương Thần cũng có chức trách của mình, nên không nằm trong số các Thần đi xuống. Pháp Vương lặng người, Ngài vừa nhấc ngón tay, nước mắt rời khỏi Gương Thần nhanh chóng chuyển động, đến khi dừng lại, giọt nước mắt đã biến thành một chiếc gương nhỏ giống hệt Gương Thần, Pháp Vương nói với Gương Thần (bằng thủ ấn): “Gương này là do một niệm của ngươi mà sinh ra, nhờ Pháp lực của ta mà thành, nó tương thông với tâm ý của người, hãy để nó thay ngươi đi xuống, ngươi cũng có thể tăng thêm uy đức.” Gương Thần trong tâm vui mừng tạm biệt tiểu Gương Thần và hai đồng tử.
Kính Tâm Pháp Vương dẫn hai đồng tử, tiểu Gương Thần và chúng Thần đi xuống.
Khi xuống đến một tầng thứ, hai đồng tử biến thành hai người trang phục giống nhau, nhưng màu y phục lại phân thành màu vàng của hình tượng nam thần và màu tím của hình tượng nữ thần. Tên của họ lần lượt là Diệu Đồng và Tử Anh. Trong tầng thứ này, hai vị thần tâm ý tương thông, thủ ấn tương hợp, cùng sáng tạo ra một thế giới thiên quốc, gọi là Tử Thiên thế giới. Hai vị Thần cùng nhìn nhau mỉm cười, cùng ngồi lên đài hoa sen, dùng thủ ấn tuyên giảng Pháp lý cho chúng sinh tại đó. Kiến trúc trong thế giới thiên quốc này là hình thức của Thành Bảo, trong đó có vô lượng chúng sinh. Hai vị thần này được gọi là Tử Diệu Song Tôn. Trong tầng thứ này, họ vẫn cần tiếp tục đi xuống và đã nhận sự an bài của cựu thế lực.
Tầng tầng đi xuống, tầng tầng xóa sạch ký ức; tầng tầng đi xuống, tầng tầng giảm đi ánh sáng rực rỡ; tầng tầng đi xuống, lại tầng tầng an bài, cứ như vậy trải qua thời gian dài đằng đẵng, họ tiến nhập vào tam giới.
Trong lịch sử lâu dài trước đó, trong 33 tầng trời của tam giới, có hai nơi tiên cảnh. Một chỗ gọi là Phụng Nguyệt Cung, cung chủ là Phụng Nguyệt tiên tử, trang sức của tiên tử vô cùng trang nhã, y phục màu trắng của ánh sáng mặt trăng, trước trán có ký hiệu hình trăng khuyết, khi bay lượn trong không trung thường hay biến ảo thành Ngọc Phụng trong vắt.
Một chỗ khác gọi là Tử Tiên Các, chủ nhân là Tử Nguyệt Tiên Tử, tiên tử mặc y phục màu tím, trước trán có trang sức hình chữ V, đằng sau thân có trang sức hình nửa cái quạt, trên mặt quạt là màu vàng kim chạm trổ 12 con rồng song song tạo thành gân quạt, những con rồng này có thể lớn có thể nhỏ, tùy theo tâm ý của tiên tử mà động theo, hơn nữa có thể biến thành vô số những hình dạng khác nhau. Thỉnh thoảng Tử Nguyệt Tiên Tử gảy đàn ngọc, đọc Kim Kinh, và trải qua những tháng ngày tiêu dao tự tại. Hai vị tiên tử này thường hay qua lại thăm nhau. Hai vị này chính là hai đồng tử Mộc Đồng và Mã Đồng trong Kính Tâm thế giới được nhắc đến ở trên, cũng chính là người khai sáng Tử Thiên thế giới – Diệu Đồng và Tử Anh.
Một hôm, Phụng Linh sứ giả của Quần Thần điện đến, mời Phụng Nguyệt Tiên Tử và Tử Nguyệt Tiên Tử đến dự hội thần tiên. Phụng Linh sứ giả giống như đôi cánh mỹ lệ của phượng hoàng, bay lên giống như phượng hoàng giương cánh màu sắc rực rỡ. giống như khoác lên vũ y của tiên nữ, đoan trang cao quý.
Phụng Nguyệt Tiên Tử và Tử Nguyệt Tiên Tử chấp nhận lời mời, đi đến hội thần tiên. Trong hội thần tiên, hội trường trang nghiêm, các thần tiên đang thương lượng việc an bài các vị thần tiên đi xuống, trong đó có Phụng Nguyệt Tiên Tử và Tử Nguyệt Tiên Tử. Sau khi an bài xong, các vị thần tiên trong tốp đầu đi xuống cần trở về thu xếp ổn thỏa mọi việc, rồi mới chuẩn bị đi xuống. Tử Nguyệt Tiên Tử không muốn mang theo đồ trang sức sau lưng, 12 con rồng lại thỉnh cầu được đi xuống cùng tiên tử, tiên tử do dự, nói: “Hạ thế sẽ rất khổ, Pháp lực sẽ mất, trong mê còn phạm sai lầm.” 12 con rồng nhiều lần thỉnh cầu, tiên tử đã nhận lời.
Khoảng 70 triệu năm trước, ở thành phố miền bắc Trung Quốc, chính là ở vị trí Đại Liên ngày nay, có non có nước, phong cảnh vô cùng đẹp, nhà cửa đông đúc, lòng người chất phác thật thà. Người dân ở đó có tóc màu vàng kim, mắt xanh, da trắng, mũi xinh xắn có chút giống búp bê. Và những người sống ở đây đều hy vọng xây dựng một thành phố nhỏ, nên họ muốn chọn một người đức cao vọng trọng làm vương.
Khi đó trong tâm người ta đều có khuynh hướng chọn thương nhân Hạo Nhiên. Hạo Nhiên trắng trẻo, cao lớn khôi ngô, mắt to có thần thái, trước trán có vết tích hình trăng khuyết mờ mờ, đối xử với người khác nhã nhặn khiêm tốn, nhiệt tình. Hạo Nhiên rất biết buôn bán, tiền kiếm được phần lớn dùng cho việc cứu giúp người nghèo. Khi dùng hết tiền rồi, anh lại đi kiếm, và anh lại tiếp tục dùng tiền kiếm được để cứu giúp người nghèo. Thời đó thịnh hành bài đồng dao: “Đắc tận giả vi vương” (Người đắc được tất cả thì làm vương). Mọi người đều cho rằng Hạo Nhiên làm buôn bán, có được tiền thì lại dùng hết để giúp đỡ người nghèo khó, tích đức hành thiện, nên anh đáng được tôn làm vua.
Có rất nhiều người bày tỏ suy nghĩ của mình về Hạo Nhiên. Nhưng Hạo Nhiên không muốn làm vua nên đã cố ý khước từ: “Có lẽ mọi người hiều sai rồi, có thể là “đắc kính giả vi vương” chăng? Có thể là người có được chiếc gương mới là người làm vua.” Những lời này vừa nói ra được vài hôm, Hạo Nhiên mộng thấy một ông lão râu trắng, ông lão bảo anh lên núi, đi tìm Dưỡng Tâm Thần Kính, để có thể giúp đỡ người khác một cách tốt hơn. Sau khi Hạo Nhiên tỉnh lại, trong lòng nghĩ, nếu như lời ông lão nói là thật, có thể giúp đỡ người khác một cách tốt hơn thì chẳng phải là chuyện tốt hay sao. Thế là anh chuẩn bị lương khô, rồi đi lên núi. Ở trên núi, anh tìm chín chín tám mươi mốt ngày, cuối cùng đã phát hiện được một tấm gương. Anh mừng rỡ đi đến phía trước để lấy chiếc gương, nhưng không cầm được. Anh nghĩ nên phải khấu bái thần linh, khấu bái xong, anh đã cầm được chiếc gương lên. Chiếc gương to như bàn tay, rất nhẹ, cạnh gương có một khe hở nhỏ, cầm trong tay có cảm giác ấm áp, chất liệu giống ngọc, so với ngọc còn tốt hơn. Lúc này tấm gương lóe lên ánh sáng, trong ánh sáng xuất hiện một ông lão râu trắng, giống với ông lão đã xuất hiện trong giấc mộng của anh, ông lão tự xưng là Chưởng Kính sứ giả (sứ giả nắm giữ gương), rồi nói với Hạo Nhiên: “Chiếc gương này gọi là Dưỡng Tâm Thần Kính, chỉ người có đạo đức cao thượng mới có được nó, người có được nó sẽ tăng thêm phúc phận. Hãy đi làm quốc vương, và xây dựng Thành Bảo đi! Gương Thần sẽ bảo vệ Thành Bảo.” Nói xong, ông lão biến mất, và ánh sáng cũng không lóe lên nữa.
Hạo Nhiên mang Gương Thần xuống núi, mọi người sau khi nghe về những gì anh trải qua, đột nhiên tỉnh ngộ: “Thì ra chúng ta đã lý giải sai bài đồng dao rồi, phải là “đắc kính giả vi vương.” Vậy là mọi người không chờ đợi gì nữa nhanh chóng ủng hộ Hạo Nhiên làm vua. Hạo Nhiên cũng cảm thấy đây là thiên ý, không thể làm trái thiên ý, nên không từ chối nữa.
Hạo Nhiên bắt đầu chỉ huy mọi người xây dựng Thành Bảo ở nơi bằng phẳng. Khi đào móng xuống lòng đất khoảng 12m thì đào được một con rùa, mai rùa màu xanh lá cây có lẫn màu vàng nhạt. Hạo Nhiên muốn thả nó đi, đột nhiên cảm thấy Gương Thần đeo trên cổ động đậy, anh cầm ra xem, mặt gương hiện ra văn tự: “Giết rùa, rồi đem bốn chân của nó chôn ở bốn vị trí của Thành Bảo, có thể làm cho Thành Bảo vững chắc.” Hạo Nhiên đã nghe theo chỉ thị của Gương Thần.
Khi Thành Bảo được xây xong, Hạo Nhiên phát hiện Gương Thần tỏa ra khí màu tím, nên trong đầu đã nhanh chóng lóe lên ý nghĩ đặt tên Thành Bảo là “Tử Thiên Bảo”.
Tử Thiên Bảo dưới sự cai trị của vua Hạo Nhiên, là một thành phố phồn vinh.
Vua Hạo Nhiên sống được 84 tuổi, sau khi ông qua đời, con trai tiếp tục kế vị. Thành Bảo đời này tiếp đời kia, đến đời vua thứ 24, tên là Tử Tế, vương hậu là Lưu Hương hạ sinh một người con gái đặt tên là Tử Vi. Công chúa Tử Vi rất thích màu tím, lanh lợi hoạt bát, nhan sắc mỹ lệ. Hai vợ chồng quốc vương vô cùng yêu mến công chúa, quốc vương còn cố ý chọn ra 12 hộ vệ trong cung để bảo vệ công chúa, hai người hộ vệ đứng đầu tên là Cổ Long và Ứng Long.
Năm công chúa được 11 tuổi, từ trên lầu trong thành cô phát hiện ở trên ngọn núi xa có một đốm sáng, cảm thấy kỳ quái, cô liền dẫn theo hộ vệ lên núi đi tìm. Sau khi tìm đến nơi, cô phát hiện một thứ giống như pha lê, to khoảng nửa bàn tay của người trưởng thành, giống như một tấm gương dựng đứng trên một tảng đá nhô lên, trong gương có hiện ra hình ảnh. Công chúa loanh quanh xem xét một cách hiếu kỳ, ở một góc nào đó, cô bất ngờ nhìn được toàn cảnh của Thành Bảo, có thể nhìn thấy rõ ràng người trong thành, công chúa rất kinh ngạc. Thị vệ cũng luân phiên quan sát, họ đều kinh ngạc không ngớt.
Tối hôm ấy, công chúa có một giấc mơ, trong mơ cô gặp một người rất nhã nhặn ôn hòa, trên trán có dấu vết hình trăng khuyết, dựa vào cảm giác cô biết đây là vị vua đời thứ nhất – Hạo Nhiên. Vua Hạo Nhiên cho cô cảm giác không phải là uy nghiêm, mà là một cảm giác quen thuộc và thân thiết. Sau đó cảnh tượng trong mộng thay đổi, cô thấy cảnh tượng vua Hạo Nhiên trải qua khi tìm kiếm Gương Thần; nhìn thấy năm cô sinh ra, nơi mà vua Hạo Nhiên tìm thấy Gương Thần bỗng nhiên sinh ra một thứ tròn tròn, dần dần lớn lên giống như thứ mà lúc trời sáng cô dẫn theo thị vệ nhìn thấy trên núi; lại nhìn thấy một chú bé chăn trâu, đi lại quanh thứ này một cách hiếu kỳ, tập trung tinh thần nhìn, bỗng nhiên, cậu bé kinh ngạc há tròn mồm, mắt không chuyển động nhìn chăm chăm vào thứ đó. Tiếp đó, trong mộng lại xuất hiện Gương Thần, trong Gương Thần có chữ đang chuyển động nhanh, cuối cùng xuất hiện một hàng chữ: “Lưỡng vương tương ngộ, hoàn mỹ vô khuyết.” (Hai vua gặp nhau, hoàn mỹ không khiếm khuyết)
Sau khi công chúa tỉnh lại, cô cảm thấy giấc mộng này rất kỳ lạ, sau bữa ăn sáng, cô kể lại cho cha mẹ nghe. Quốc vương và vương hậu nghe xong vô cùng vui mừng. Quốc vương nói: “Theo ghi chép trong Thành Bảo, vẫn chưa có ai mộng thấy tiên vương, uy đức của vua Hạo Nhiên làm hậu nhân phải kính ngưỡng, con mộng thấy ngài, thật là may mắn”. Quốc vương muốn con gái dẫn mình lên núi đi xem vật kỳ dị kia, nhưng lại có một sức mạnh nào đó ngăn cản ông, làm ông từ bỏ ý nghĩ đó.
Sau này công chúa lại lên núi tìm đến chỗ đó, không biết vì sao, có làm thế nào cũng không tìm thấy.
Năm công chúa 12 tuổi, có hai người ca hát tạp kỹ đến Thành Bảo biểu diễn trên quảng trường, rất nhiều người vây quanh xem. Trong lòng quốc vương thấy mơ hồ bất an, cảm thấy sắp có tai nạn giáng xuống, vương hậu cũng có điều phiền muộn không thể tả nổi. Nhưng công chúa lại rất thích thú, cô muốn đi xem biểu diễn, quốc vương không cho, cả ngày cô buồn bã trong lòng. Thỉnh thoảng tiếng vỗ tay lại vang lên ngoài quảng trường, mọi người đều bàn tán sôi nổi về sự thần bí của trò ca hát tạp kỹ kia. Đến ngày thứ ba, cuối cùng quốc vương cũng cho phép công chúa ra ngoài, còn đeo cho cô Gương Thần, và bảo cô không được bỏ nó ra, 12 thị vệ hộ tống công chúa đi ra ngoài.
Hai người biểu diễn tạp kỹ biết được công chúa đến, lại càng dốc sức biểu diễn. Trong đó một người có dáng người cao nói với công chúa: “Công chúa tôn quý, tôi biết cô có một tấm gương, tôi có thể làm nó biến thành một thứ khác, không tin cô hãy lấy ra”. Công chúa đang vui, vừa muốn lấy Gương Thần ra thì nghĩ ngay tới lời dặn của phụ vương, vội nói: “Không được”. Người biểu diễn tạp kỹ dáng người thấp hơn nói: “Dùng cây trâm bằng vàng trên đầu cũng được”. Công chúa lấy cây Kim Phụng Trâm trên đầu mình xuống, đưa cho người biểu diễn tạp kỹ. Người biểu diễn tạp kỹ biến cây trâm thành rất nhiều thứ, ở một phạm vi nhỏ trong không trung diễn hóa ra thiên quân vạn mã, yêu ma quỷ quái, v.v. Bỗng nhiên công chúa cảm thấy rất sợ hãi. Khi người biểu diễn tạp kỹ trả lại cô cây trâm, cô nói không muốn gì cả, rồi dẫn thị vệ bỏ đi. Người biểu diễn tạp kỹ tỏ ra vô cùng thất vọng, người cao nói với người thấp: “Chúng ta biến cây trâm thành cửa thành, dựng trên quảng trường đi!” Vậy là hai người họ miệng niệm vài câu, biến cây trâm thành một cánh cửa dựng trên quảng trường. Rồi họ rời đi.
Sau khi quốc vương và vương hậu biết được việc này, trong lòng thấy bất an, sau nhiều lần do dự, đã quyết định đi xem cái cửa kia. Lúc xem cái cửa đó, quốc vương cảm thấy miệng tê, vương hậu cảm thấy mắt không động đậy. Quốc vương hạ lệnh phá cái cửa đó đi, nhưng không phá được, ngược lại chân tay của những người phá cửa không cử động được. Cả đêm quốc vương và vương hậu không ngủ. Sáng sớm hôm sau, miệng của quốc vương bị méo, mắt của vương hậu đã bị mù. Người dân trong Thành Bảo sau khi biết tin, cho rằng Thành Bảo sắp gặp tai ương rồi, một số người đã rời đi nơi khác. Quốc vương sai người không được ngăn cản họ, mặt khác khẩn trương khấu bái Gương Thần.
Gương Thần hiển thị: “Con rùa mà vua Hạo Nhiên đã giết, đã có 12 nghìn năm tu hành, rất có linh tính. Trong khi nó ngủ một giấc dài, nguyên thần xuất ra đi chơi, còn thân thì bị bắt. Rùa tinh trở về đã không có chỗ ở, nên muốn báo thù Thành Bảo, liền nhập vào thầy mo, báo thù từng đời từng đời. Lúc khí số của Thành Bảo đang rất thịnh, thầy mo không thể làm gì được. Đến đời vua thứ 24, rùa tinh cảm thấy chân rùa chôn dưới đất truyền tin đến, biết được khí số Thành Bảo đã suy yếu, nên vội vã đến báo thù. Thầy mo bị rùa tinh phụ thể biến thành người biểu diễn tạp kỹ, chỉ cần một đồ vật trên thân của bất kỳ thành viên vương thất nào rơi vào tay thầy mo, ông ta sẽ lưu lại các nhân tố tà ác trong Thành Bảo, làm cho Thành Bảo phát sinh biến hóa đáng sợ”.
Cuối cùng Gương Thần hiển thị: “Thành Bảo sẽ tồn tại rất lâu, cuối cùng biến thành màu trắng”.
Khấu bái Gương Thần xong, quốc vương và vương hậu trở lại bình thường. Quốc vương kể lại những điều Gương Thần hiển thị cho người dân, mọi người đều yên tâm, người chuyển đi cũng lần lượt quay trở lại. Cánh cửa trên quảng trường cũng biến càng ngày càng nhỏ, dần dần biến mất. Nhưng công chúa lại có thay đổi to lớn, một người đáng yêu hoạt bát nay lại tràn đầy tâm sự, u sầu buồn bã.
11 năm sau, quốc vương và vương hậu lần lượt qua đời, Tử Vi công chúa trở thành nữ vương của Tử Thiên Bảo.
Nữ vương rất thích xem các sách cổ. Có một lần, trong một nơi tĩnh mịch ở Thành Bảo, cô vô tình phát hiện một cuốn sách phủ dày một lớp bụi, cuốn sách hơi mỏng, trang sách đã ố vàng, câu chữ bị khuyết thiếu. Nữ vương phải mất thời gian dài để phục chế cuốn sách, phát hiện đời vua thứ 10, có người đã dự ngôn về tương lai của Thành Bảo, lưu lại những lời tiên tri: “Vu vu lai lâm, Thành Bảo cự biến” (thầy mo đến, Thành Bảo sẽ có biến đổi to lớn). Nữ vương gấp sách lại và trầm tư: cuốn sách này nguồn gốc từ đâu, do ai viết? Tại sao trong những ghi chép về Thành Bảo lại không có? Chân rùa đã có thể mang lại sự bền vững cho Thành Bảo, lại còn mang đến tai nạn, lẽ nào những điều này đều là thiên ý, số mệnh định rằng sẽ phát sinh? Hay vẫn còn có huyền cơ nào khác? Sau thời gian dài tận lực suy nghĩ cũng không có kết quả. Hai bên tóc mai của nữ vương đã xuất hiện tóc trắng. Thị vệ khuyên nữ vương không nên tiếp tục suy nghĩ nữa, nhưng nữ vương không chặn đứng được dòng suy nghĩ này.
Hai năm nữa trôi qua, Thành Bảo có hai người lạ đến. Dựa vào cảm giác, nữ vương nhận định đây là hai người biểu diễn tạp kỹ 30 năm trước. Thế là nữ vương phái 20 thị vệ trong cung ra đuổi họ đi. Hai người lạ đó biến thành hình dáng thầy mo, cười điên cuồng và biến Cổ Long, Ứng Long thành rồng, rồi nói ra những lời vu tội, nói nữ vương là yêu quái. 10 người thị vệ khác xông lên, lại bị hắn biến thành rồng. Nhưng rồng không khuất phục, vẫn tấn công thầy mo, thầy mo hô to “Đóng băng! Đóng băng!” Làm cho 12 con rồng bị đóng băng lại. Những binh sĩ xông vào cũng bị đóng băng. Tiếp theo, toàn bộ Thành Bảo dần dần bị đóng băng. Nữ vương nhanh chóng khấu bái Gương Thần, chỉ thấy Gương Thần hiện lên một khung cảnh đầy băng. Nữ vương biết rằng đó là kết cục mà Thành Bảo sắp đối mặt, đau đớn vô cùng, muốn khóc mà không còn nước mắt. Nữ vương chạy đến nơi cao nhất ngoài Thành Bảo, đứng tại đó quan sát Thành Bảo, cô tận mắt chứng kiến bách tính của Thành Bảo nhốn nháo chạy khắp nơi, cuối cùng không ai có thể may mắn thoát khỏi, ngay cả con chim bay trên bầu trời vừa đậu lại trên công trình kiến trúc của Thành Bảo cũng không thoát được vận hạn. Nữ vương cảm thấy bi thương, không biết làm thế nào, nhắm mắt lại lặng lẽ chờ đợi kết cục cuối cùng. Trong thời khắc đó, dù ngắn ngủi nhưng cô lại thấy vô cùng dài. Được một lúc, nữ vương mở mắt ra, bất ngờ phát hiện chỉ có những thứ dưới chân mình là không bị đóng băng, toàn bộ Thành Bảo đã biến thành màu trắng.
Hai người thầy mo vẫn đang cuồng vọng kêu gào. Lúc này, trong không trung vươn ra một cánh tay lớn, tóm lấy hai thầy mo mang đi. Nữ vương vội vã khấu bái và thỉnh cầu, hy vọng kỳ tích xuất hiện, làm cho tất cả phục hồi nguyên trạng, nhưng trên bầu trời không có dấu hiệu nào đáp lại. Gương Thần trên người nữ vương phát ra ánh sáng, ông lão râu trắng xuất hiện, ông dùng lời nói thương tâm bảo nữ vương: “Đây đều là an bài của trời cao, đã định như thế, không ai có thể thay đổi, tất cả mọi thứ bị đóng băng trong khoảng một nghìn năm sau, chỉ có con mới có thể hóa giải. Khi trên người con đeo thứ bên trong có chín bức hình, và khi bánh xe lớn có thể chuyển động xuất hiện, có Pháp lực và uy đức vô biên, tất cả đều có thể sống lại. Nếu không tất cả sẽ bị hủy diệt.” Nói xong, ông lão biến mất, ánh sáng cũng không còn nữa, thần kính hóa thành áng mây, chở nữ vương bay lên, nữ vương cảm thấy thoải mái vô cùng. Cô nghĩ, có phải là thân thể ta đã lưu lại ở Thành Bảo rồi, và linh hồn của ta bay ra? Từ trên cao nhìn xuống, cô thấy thân thể mình đứng trên Thành Bảo đã bị đóng băng rồi, nữ vương cảm thấy ngạc nhiên. Áng mây chở nữ vương bay đi càng ngày càng xa, và dừng lại ở một nơi. Nữ vương nhìn xuống, thấy một hộ gia đình đang sinh con, muốn nhìn chi tiết, bỗng nhiên trượt chân ngã xuống, và chuyển sinh vào hộ gia đình này.
Trong khi áng mây chở nữ vương đi, Thành Bảo cũng biến mất trong nháy mắt và bị phong bế toàn bộ trong không gian khác. Vị trí sở tại của Thành Bảo biến thành một vùng đất trũng hoang vu.
Ba hôm trước khi Thành Bảo bị đóng băng, một mục đồng (cậu bé chăn trâu) khoảng 11 tuổi của Thành Bảo, đang thả trâu trên núi, bỗng nhiên phát hiện thứ thứ kỳ dị giống như tấm gương mà công chúa từng nhìn thấy ở trên núi, ở một góc, cậu bé nhìn thấy được toàn bộ diện mạo của Thành Bảo, nên cảm thấy vô cùng hiếu kỳ. Thế là mỗi ngày thả trâu, cậu đều quan sát tấm gương này để cho khoảng thời gian nhàm chán trôi đi. Khi Thành Bảo phát sinh thay đổi to lớn, cậu đang nhìn Thành Bảo qua tấm gương đó, cậu đã tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình Thành Bảo bị đóng băng, lại còn nhìn thấy Thành Bảo biến mất, cậu kinh ngạc đến nỗi há tròn mồm không biết nói gì, vội vã cưỡi trâu xuống núi. Đi trên con đường quen thuộc trở về nhà, cậu đã phát hiện Thành Bảo thật sự biến mất, vị trí hiện giờ của Thành Bảo chỉ là một vùng đất trũng hoang vu. Cậu không dám tin vào mắt của mình nữa, trong lòng sợ hãi cực độ, ngay cả con trâu cậu cưỡi cũng sợ hãi lùi lại phía sau. Cậu bé sợ hãi, không xử lý biết thế nào.
Thành Bảo đã không còn nữa, nhà cũng không còn nữa, người thân cũng không còn. Cậu bé vừa sợ hãi vừa không có chỗ nương tựa nên cưỡi trâu đi về nơi xa xôi. Đến chỗ có người, cậu nói với mọi người về sự việc này. Mới đầu mọi người không tin, người hiếu kỳ đi xem Tử Thiên Bảo, nhưng lại không thấy. Còn có thương nhân hay tới lui cũng phát hiện Thành Bảo đã không còn nữa, lại còn cho rằng mình lạc đường. Cứ như vậy, ngày càng có nhiều người biết được Thành Bảo đã biến mất.
Vậy rốt cuộc thì Thành Bảo đã biến đi đâu, nữ vương và thần dân đã xảy ra chuyện gì? Không ai biết, không ai hiểu. Về sau nhiều người căn cứ vào lời kể của cậu bé chăn trâu, đã viết thành cuốn sách, tên là “Truyền kỳ Thành Bảo”. Câu chuyện này được truyền từ đời này qua đời khác, rồi cùng theo thời gian, dần dần người đời sau cho rằng đây là truyền thuyết tràn đầy trí tưởng tượng.
Ngày nay, vị vua Hạo Nhiên, công chúa Tử Vi, cậu bé chăn trâu năm xưa đều đã trở thành đệ tử của Phật Chủ, đều đang tu luyện trong Đại Pháp. Công chúa Tử Vi chính là tôi, khi còn trên thượng giới từng là Tử Nguyệt Tiên Tử; 12 người thị vệ chính là 12 con rồng theo Tử Nguyệt Tiên Tử đi xuống; cậu bé chăn trâu là con gái của tôi. Còn vua Hạo Nhiên? Từng là Phụng Nguyệt Tiên Tử, là đồng tu bên cạnh tôi, hai người chúng tôi thường ở cùng nhau, giúp đỡ lẫn nhau, bù đắp những thiếu sót cho nhau. Đồng tu ấy lại còn giúp đỡ tôi viết bài, đúng với điều Gương Thần hiển hiện trong giấc mộng năm xưa: “Lưỡng vương tương ngộ, hoàn mỹ vô khuyết.
Thành Bảo vẫn bị phong bế trong băng giá ở không gian khác, có một trường không gian độc lập của nó, Thành Bảo bị phong kín sáu nghìn năm ở không gian đó, mà ở thế gian đã trải qua bao cuộc bể dâu, khi thịnh vượng, lúc suy tàn, đã qua 70 triệu năm rồi.
Ngày thứ ba tôi ở Đại Liên, Thành Bảo bị phong bế trong không gian khác toàn bộ đã được giải khai, 12 con rồng từng bị đóng băng cũng được giải khai toàn bộ. Tất cả những sinh mệnh bị đóng băng, giống như đã tỉnh lại sau giấc ngủ đông vậy, toàn bộ đều sống trở lại. Thân thể nữ vương sau khi được giải băng không động đậy, giống như tượng điêu khắc, chỉ nhìn thấy phần tu thành của tôi, giống như bức tượng nữ Phật. Một luồng sáng trắng từ phía đỉnh đầu của nữ vương đi vào trong cơ thể, trong luồng sáng này có hình tượng hoàn chỉnh của tôi khi làm Tử Vi nữ vương, mang theo tư duy, lại còn ngáp giống như một đứa bé vừa mới tỉnh dậy, dưới sự bảo vệ của ánh sáng trắng mà đi vào cơ thể của nữ vương, tương hợp với thân thể của nữ vương. Trong chốc lát, mắt của nữ vương chuyển động, nét mặt hồng hào, cao quý trang nhã nhìn dân chúng của Thành Bảo mà vui mừng.
Thành Bảo đã rất cổ rất cổ, ngày nay ở trong không gian kia, rạng rỡ ánh sáng, sức sống bừng bừng, một cảnh tượng phồn hoa, phảng phất thánh cảnh ở thiên quốc.
Lời cuối:
Hôm mà Thành Bảo bị đóng băng được giải trừ, tôi vẫn còn ở Đại Liên, có bốn con rồng đến nhà tôi, biến thành rất nhỏ, nằm trên mặt bàn trong phòng khách và phòng bếp. Tám con khác thì luôn đi theo tôi. Lúc đó, rồng trên núi và dưới biển đều xuất hiện gọi chào tôi, chúng thấy tám con rồng này thì cảm thấy rất kỳ lạ, cảm thấy dường như trước đây chưa từng gặp qua con rồng nào cổ xưa như vậy, chúng cũng rất tôn kính tám con rồng này. Khi tôi trở về, tám con rồng này cũng theo tôi trở về.
Sau khi trở về, tôi nói với chúng (12 con rồng): “Đại Liên cạnh núi lại gần sông, là một chỗ tốt, còn ở đây không có núi không có nước, có thể không thích hợp với bọn ngươi, ta cho các ngươi thứ tốt nhất, bọn ngươi hãy quay về đi”. Lúc này, mây đen đầy trời, trời đã mưa. 6 giờ tối khi phát chính niệm, 12 con rồng xếp song song thành hàng ngang cáo biệt tôi, chúng không muốn rời đi, khóc nước mắt đầm đìa. Bất giác tôi cũng rơi lệ. Phát chính niệm xong, tôi hợp thập trước Pháp tượng của Sư tôn cảm tạ Ngài, cảm tạ Sư tôn đã cứu Cổ Bảo, hóa giải được kiếp nạn này.
Sáng sớm ngày thứ sáu khi tôi đã trở về, một trận mưa như trút nước, tôi lại nhìn thấy rồng đến, chúng quỳ phục, dùng ánh mắt cảm phục nhìn tôi, Ứng Long nói: “Thật sự muốn chở ngài bay, nhưng không được, vì ngài ngồi trên tòa sen nên tôi không thể làm càn.” Tôi biết, hôm đó khi tôi trở về nhà, chúng đều muốn đến, nên đã bàn bạc xem nên là từng con một đến, hay là mấy con một đến, hay là cùng đến cả, nhưng lại sợ tôi bảo chúng đi, không nghĩ được cách nào, cuối cùng chúng cùng nhau đến. Tôi nói với chúng: “Các ngươi hãy nhớ ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân Thiện Nhẫn hảo’, ta cấp năng lực cho các ngươi, các ngươi cũng tham gia vào cùng ta trợ Sư chính Pháp nhé! Tiêu diệt tà ác ở không gian khác.” Nghe thấy tôi nói vậy, chúng vừa vui mừng vừa cảm động, giống như người nhảy dựng lên vậy, chúng vây thành vòng tròn mà khóc mãi không thôi. Từ đó về sau, chúng chưa từng rời khỏi tôi.
Dịch từ: http://www.zhengjian.org/2011/12/31/79622.一路圣缘:古堡重生.html

Thứ Hai, ngày 17 tháng 11 năm 2014

Điều một học viên mới nhìn thấy khi phát chính niệm

Điều một học viên mới nhìn thấy khi phát chính niệm


Bài viết của đệ tử Đại Pháp tại Hà Bắc
[MINH HUỆ 25-10-2014] Hơn một năm đắc Pháp vừa qua, tôi đã nhiều lần nhìn thấy Sư phụ, Sư phụ khích lệ tôi tinh tấn, tất cả bệnh tật của tôi đều đã khỏi. Tháng Tư năm ngoái khi vừa đắc Pháp, tôi đã có thể ngồi song bàn một tiếng đồng hồ; lúc bắt đầu bão luân, khi tôi mỏi tay không thể tiếp tục được nữa, Sư phụ đã kéo tay tôi lên, cho tới lúc tiếng nhạc kết thúc mà tôi vẫn còn muốn bão luân thêm một lúc nữa. Khi tôi luyện tĩnh công, Sư phụ cùng luyện công với tôi trên những ngọn sóng, trên rừng trúc, trên lá trúc, trên lá cây, trên đỉnh núi. Khi tôi phạm sai lầm Sư phụ nhìn tôi rất nghiêm khắc, tôi hướng nội tìm lần nào cũng tìm thấy chấp trước và sai sót, lập tức cải chính những sai lầm và chấp trước đó, Sư phụ lại mỉm cười.
Hồi tưởng lại Phật duyên với Sư phụ, tôi còn nhớ một đời trong chiến tranh thời xưa tôi là một quan võ, trong một cuộc chiến, tôi theo Sư phụ xông pha trận mạc, trong cuộc chiến đó tôi đỡ giúp Sư phụ một nhát dao nên đã hy sinh nơi sa trường. Năm nay tôi 50 tuổi rồi, thật hối hận là mình đắc Pháp muộn như vậy, Sư phụ khiến tôi mau chóng tinh tấn, Ngài nói rằng thời gian không còn nhiều nữa. Lúc 10 giờ ngày 11 ngày 10 năm 2014, khi ngồi đả tọa tôi nhìn thấy một cảnh tượng và muốn chia sẻ cùng các đồng tu: Tôi nhìn thấy mấy chiếc máy bay, bị những tấm bạt rất dày che kín xung quanh, cột rất chặt, máy bay muốn cất cánh mà không thể bay nổi, phía dưới có một thứ như dây chão kéo xuống. Bên dưới là mặt đất rộng mênh mông, ngút tầm mắt, trên mặt đất cũng có một lớp vật chất rất dày. Bên trong dường như có người đang đội lớp đó lên, dốc hết sức đội lên mà không làm nổi, tôi vừa nhìn thấy đã không hiểu chuyện gì đang xảy ra? Làm thế nào mới có thể giúp đỡ họ? Tôi thò tay lấy một con dao nhỏ rạch một hình chữ thập trên những chỗ đang đội lên, sau đó tôi nhìn thấy từng đệ tử Đại Pháp đều bay lên.
Sau đó, tôi lại nhìn thấy hai con thuyền lớn, ban đầu tôi không biết rằng đó là thuyền của cựu thế lực, tôi bước tới, một chân đặt trên con thuyền có nhiều người, mới nhìn đã thấy có rất nhiều người (là đệ tử Đại Pháp chăng?) ai nấy mặt mày phờ phạc, ốm đau xiêu vẹo, tôi vừa nhìn đã thấy không phải, đệ tử Đại Pháp sao lại như vậy được? Tôi phải tìm chiếc thuyền của chúng tôi, thuyền của đệ tử Đại Pháp. Vừa nghĩ như vậy, tôi lập tức rút chân lại, bước tới con thuyền của đệ tử Đại Pháp, không có nhiều người như con thuyền đầu tiên. Sư phụ cũng ở trên thuyền, tôi nghe thấy cựu thế lực nói với Sư phụ: Ông hãy thay đổi một chút ngoại hình của ông, đệ tử của Ông còn rất nhiều người bước lên thuyền của tôi. Lúc này tôi thấy Sư phụ trở nên gầy đi, mặc chiếc áo màu trắng như hồi đầu truyền Pháp. Thuyền của cựu thế lực quả thực có nhiều người hơn thuyền của chúng tôi. Tôi lại nhìn thấy Sư phụ đang khóc. Tôi cũng khóc, nói với “đệ tử Đại Pháp” trên chiếc thuyền của cựu thế lực rằng: “Sao bạn lại bước lên con thuyền của cựu thế lực? Thuyền của đệ tử Đại Pháp ở đây cơ mà!” Tôi vừa nóng lòng thì xuất định, giọt nước mắt trong khóe mắt vẫn còn vương lại.
Mấy ngày đầu trong khi nhập định, tôi nhìn thấy nơi thế gian xảy ra động đất lớn, đại hồng thủy, đại ôn dịch, chúng sinh chết đói, quả thực là không nỡ lòng nhìn thấy cảnh tượng đó. Tôi nấu cháo bằng một nồi lớn đưa cho mọi người húp. Tôi còn nhìn thấy một đồng tu trẻ trong thôn mình, hiện giờ đã kết hôn với một người thường, hòa lẫn với người thường, lầm lạc giữa người thường, cũng chịu tội cùng với họ. Trên đây là cảnh tượng tại không gian khác mà tôi nhìn thấy thông qua thiên mục, Sư phụ đang điểm hóa tôi điều gì, thời gian dường như rất cấp bách, các đồng tu xin tự mình ngộ xem.
Hôm sau, khi tôi học “Giảng pháp tại Pháp hội New Zealand” lại thấy Sư phụ giảng:
“Cũng giống như một chiếc thuyền, nó muốn ra khơi, dây neo [thuyền] lại buộc chặt nó tại bến tàu, buộc biết bao nhiêu sợi, nếu chư vị không tháo ra thì chư vị không thể đi được.” (Tạm dịch)

Đăng ngày 15-11-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thứ Hai, ngày 10 tháng 11 năm 2014

Chuyến hành trình hạnh phúc của một phó giám đốc doanh nghiệp tư nhân

                          Chuyến hành trình hạnh phúc của một phó giám đốc doanh nghiệp tư nhân



Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp ở thành phố Giai Mộc Tư, Trung Quốc
[MINH HUỆ 31-08-2014] Tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp vào ngày 05 tháng 01 năm 1997, và hiện đã tu luyện được hơn 16 năm. Tôi đã 57 tuổi nhưng sức khỏe của tôi chưa bao giờ tốt như bây giờ. Tôi làm phó giám đốc trong một công ty tư nhân với mức lợi nhuận hàng năm vào khoảng 4 triệu nhân dân tệ. Ông chủ của tôi nói rằng ông ấy thuê tôi vì tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.
Không còn đau đớn hay bệnh tật
Từ trẻ tôi đã không được khỏe. Mẹ tôi đã đưa tôi đến khám tại nhiều bệnh viện trên khắp đất nước, nhưng tôi vẫn không cảm thấy khỏe hơn cả về thể chất lẫn tinh thần. Tôi không cảm nhận được bất kỳ niềm vui nào trong cuộc sống.
Năm 1995, một người bạn đã nói cho tôi nghe về Pháp Luân Đại Pháp, và cho tôi biết rằng nó tốt như thế nào. Nhưng tôi không nghe cô ấy mà tiếp tục luyện các môn khí công khác. Sức khỏe của tôi trở nên tệ hơn. Đầu tôi cảm thấy nặng nề, và tôi bị chóng mặt cả ngày. Tôi không hài lòng và phàn nàn về việc chồng mình không làm việc, rồi dẫn đến cãi nhau với anh ấy. Ngày nào tôi cũng thấy bực mình.
Sau đó, sức khỏe của tôi tệ hơn, tôi phải nằm liệt giường và đi lại khó khăn. Một ngày nọ, tôi đi xuống cầu thang để mua nửa thùng bia. Khi về đến nhà, tôi để ý thấy khối u trong ngực mình sưng lên đau đớn. Tôi phải dùng thuốc trong vài ngày liền. Tôi bị chóng mặt khi vươn người về phía trước. Tôi cảm thấy mình không còn chút sức lực nào. Miệng tôi xuất hiện một vết loét nghiêm trọng khiến tôi gặp khó khăn trong việc ăn uống. Tôi còn bị những loại bệnh khác và ngày nào cũng ở trong tình trạng đau đớn.
Một số đồng nghiệp của tôi nhìn thấy tôi như vậy nên ngày nào họ cũng giới thiệu Pháp Luân Đại Pháp cho tôi. Tôi nói rằng tôi không tin ngày nay còn bất cứ điều gì tốt và tôi thà chịu chết còn hơn. Họ nói rằng Pháp Luân Đại Pháp là Phật Pháp. Ngay khi nghe đến từ “Phật Pháp”, tôi liền nói với họ rằng: “Vậy thì tôi sẽ tu luyện môn này.”
Vì vậy, tôi đã đi đến điểm luyện công và học các bài công pháp. Tôi đã luyện các bài công pháp và đọc Chuyển Pháp Luân mỗi ngày. Sau khi đọc xong Chuyển Pháp Luân, tôi đã hiểu được ý nghĩa của cuộc sống. Kể từ đó tôi không bao giờ dao động trong tu luyện.
Phép lạ nhanh chóng xuất hiện. Đầu của tôi không còn cảm thấy nặng nề nữa. Bệnh thấp khớp và đau khớp của tôi cũng biến mất. Thân thể của tôi cảm thấy nhẹ nhàng. Tôi không còn bị táo bón và lở miệng. Sức khỏe của tôi đã hồi phục. Đầu óc của tôi trở nên minh mẫn và tôi đã có thể ăn ngon, ngủ yên. Mỗi ngày tôi đều cảm thấy vui vẻ và làm việc hiệu quả.
Các đồng nghiệp của tôi nói rằng tôi đã thay đổi. Tôi còn tổ chức các hoạt động cho họ, và tôi đã ba lần leo lên đỉnh núi Thất Tinh có chiều cao 853 mét so với mực nước biển. Họ rất ngạc nhiên trước những lợi ích sức khỏe kỳ diệu của Pháp Luân Đại Pháp.
Tôi bắt đầu làm các công việc nhà và thường xuyên đến thăm mẹ chồng của mình cũng như mang đến cho bà những thứ thiết yếu. Tôi không tranh luận hay cãi nhau với chồng mình nữa. Tôi trở nên kiên nhẫn với con của mình hơn. Hàng xóm của tôi cũng đến thăm tôi nhiều hơn. Tất cả mọi người khi nói chuyện với tôi đều ấn tượng về những thay đổi của tôi và biết rằng Pháp Luân Đại Pháp là tốt.
Sếp cũ của tôi đã rời công ty để nhận vị trí giám đốc trong một công ty khác. Ông ấy hỏi liệu tôi có muốn làm cùng ông ấy không. Ông ấy nói rằng ông muốn đề bạt tôi làm việc trong một quỹ đầu tư với mức lương 10 triệu nhân dân tệ và một căn hộ miễn phí. Tôi đã từ chối vì không còn ham danh lợi nữa. Năm sau, vợ của ông ấy lại động viên tôi làm việc với chồng bà vì họ tin tưởng tôi là một học viên Pháp Luân Đại Pháp.
Sếp của tôi đã thuê tôi vì tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp
Tôi đang làm tốt công việc của mình ở công ty cũ. Tuy nhiên, trong một tuần liền, ngày nào sếp cũ của tôi cũng gọi cho tôi và liên tục mời tôi làm việc cho ông.
Cuối cùng, tôi đã từ chức và đến làm việc cho ông ấy. Tôi sống và làm việc cùng với các nhân viên khác và làm các việc giống như họ, từ cải tổ cho đến các hoạt động kinh doanh.
Hai năm đầu rất khó khăn. Họ cãi vã, chửi rủa và thậm chí còn làm việc xấu sau lưng tôi. Cuối cùng, họ đã bị tôi thuyết phục và bắt đầu phục tôi. Những nhân viên đã nghỉ việc cũng quay trở lại làm việc. Một đồng nghiệp nói với tôi: “Tôi đã làm việc cho vài công ty khác nhau, mọi người không tốt và ích kỷ, nhưng ở đây hoàn toàn khác, ngay cả con dâu tôi cũng biết rằng chúng tôi có được người sếp tốt nhất.”
Sếp của tôi đã bị thuyết phục bởi khả năng của tôi và yêu cầu tôi điều hành công ty cho ông ấy. Giờ đây, ông rất ít khi đến công ty. Từ khi tôi tiếp quản phụ trách, lợi nhuận của công ty cũng tăng lên năm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái. Sếp vui vẻ nói với tôi: “Cô có biết vì sao tôi yêu cầu cô quản lý công ty không? Vì cô tu luyện Pháp Luân Đại Pháp đấy.” Tôi đáp: “Sếp có biết rằng Pháp Luân Đại Pháp có thể khiến người ta trở nên tốt hơn không? Đó là lý do tại sao Sư phụ của tôi lại vĩ đại đến thế!”

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/8/31/私企副总经理的幸福-296701.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/9/15/3263.html
Đăng ngày 10-11-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Chủ Nhật, ngày 02 tháng 11 năm 2014

Trải nghiệm trong định: PHáp hội San Francisco - Chuộc lại

Trải nghiệm trong định: Pháp hội San Francisco – Chuộc lại


Tác giả: Dịch lại và chỉnh lý theo lời kể của đệ tử Đại Pháp người Tây phương
[ChanhKien.org]
Sư ân to lớn như trời biển
Pháp hội tại San Francisco năm 2014, Sư phụ không quản khó nhọc, lặn lội đường xa đến California, vì chúng sinh toàn vũ trụ mà giảng giải Đại Pháp. Ngày thứ hai của Pháp hội, trong khi luyện công nhập định, từ trong thủ ấn của Sư phụ tôi biết được rằng cơ hội như thế này là không nhiều.
Trong Pháp hội, mỗi khi Sư phụ giảng đến Pháp lý “tu luyện như thuở ban đầu, tất thành”, tay của Sư phụ tiếp tục huơ, khi miệng Ngài nói ra từ “tất thành”, tôi nhìn thấy một lượng lớn nghiệp lực trên thân các sinh mệnh, những vật chất màu đen, dính như nhựa đường, bị công của Sư phụ đánh tiêu mất, trong chốc lát bị giải thể.
Những sinh mệnh đó bao gồm: trong ma nạn sinh tử hoặc trước khảo nghiệm có thể viên mãn hay không, nhưng không vượt qua được; phạm phải sai lầm, tạo ra tội nghiệp; lười biếng buông lơi, hiện ra vẻ nhưng không tu, ý chí không kiên định, tâm tính rớt xuống; đã từng tu luyện không tệ, hiện tại bị rớt xuống đáy; học viên mới; đã từng cùng nhóm với cựu thế lực ở các tầng thứ, ngày nay minh bạch trở lại. Trong số này này có những sinh mệnh có mặt tại Pháp hội, có những sinh mệnh ở các nơi trên thế giới, có cả những sinh mệnh ở không gian khác.
Họ có đặc điểm chung là khi nghe Sư phụ giảng Pháp, phía mặt Thần của họ tỉnh lại, tâm hồn của họ được Đại Pháp gột rửa. Tương lai khi học các bài giảng Pháp của Sư phụ, những người kính tâm thành ý sẽ bị chấn động. Năng lượng mà Sư phụ ép nhập trong bất cứ lần giảng Pháp nào đều đủ để đánh thức lại chính niệm hướng thiện của họ, chỉ cần họ dụng tâm học Pháp.
Sư phụ có thể thấy được tất cả các niệm đầu của chúng sinh trong vũ trụ, tâm nào cũng không thể thoát khỏi đôi mắt của Ngài. Khi có người tự trong tâm thật sự hối hận, thật lòng muốn bù đắp, muốn làm tốt, muốn cùng Sư phụ trở về thế giới thiên quốc, lần này Sư phụ đặc biệt khai ân, ban cho chúng ta ân huệ vô cùng to lớn.
Không phải vì chúng ta là đệ tử Đại Pháp nên Sư phụ phải làm giúp chúng ta, không phải là chúng ta xứng đáng với những điều Sư phụ làm cho, mà là vì sự thương xót chúng sinh của Sư phụ, tình thương của Sư phụ to lớn như núi! Ơn của Sư phụ to lớn như trời biển!
Sư phụ nâng cao “Kim tự tháp”
Tại nơi diễn ra Pháp hội, tôi nhìn thấy không gian khác, bản thân tôi ở trong kim tự tháp trong thiên quốc của chính mình, đang ngước đầu lên nhìn Sư phụ. Bên ngoài tháp bao trùm năng lượng màu vàng kim vô cùng rực rỡ, Sư phụ ở trên đỉnh của kim tự tháp, nhấc kim tự tháp lên một chút, kim tự tháp lập tức biến thành cao hơn. Bốn cạnh của kim tự tháp cách xa nhau với khoảng cách vô cùng to lớn, khoảng cách trong ngoài trước sau trái phải của kim tự tháp quả thực vô cùng dài, cho nên tôi không cảm giác thấy kim tự tháp có biến lớn theo tỷ lệ hay không, tôi chỉ nhìn thấy thiên quốc của bản thân mình cùng với chiều cao của đỉnh kim tự tháp, di chuyển dần lên trên, vị trí của Tam Giới cũng dần thăng lên trên.
Tam Giới tương lai sẽ hoàn toàn thay đổi, trời đất trong sáng. Tôi đã tu thành rồi, làm người ngây thơ của Tam Giới, vị trí không thấp cũng không cao, cũng đủ tốt.
Lần này, sau khi Sư phụ đích thân trừ bỏ nghiệp lực cho tôi, hai tay tôi không còn chảy máu nữa. So với bất cứ khoảng thời gian nào trước đây tôi đều rất rõ, với Pháp lực của Sư phụ, dù sự việc khó khăn đến mấy cũng không cần Sư phụ động đến một đầu ngón tay. Sư phụ vì cứu người chủ nợ, trong các tầng thứ khác nhau thà dùng máu của chính mình để thay chúng ta trả nợ. Sư phụ cân bằng nợ nần của hai bên, cân bằng tất cả các phương diện.
Những gì Sư phụ làm đã không phụ lòng tất cả các sinh mệnh trong vũ trụ, không phụ lòng tất cả các Phật, Đạo, Thần, Tiên, người, động vật, quỷ, ma !
Sư phụ tịnh hóa thân thể cho học viên bị nhiễm virus
Tôi còn nhìn thấy, một học viên nọ trong thân thể có virus đang ẩn náu, đến một lúc nào đó sẽ phát tác. Việc này trông giống như ngẫu nhiên, nhưng nếu người ấy bị bác sỹ dùng roi chích điện, thì trong tình thế tuyệt vọng có thể bừng tỉnh, tâm kia có thể chuyển biến, những virus kia tự sẽ mất đi trong chốc lát. Nếu không, chẳng những bản thân không qua được, mà còn bị lợi dụng để khảo nghiệm những người xung quanh.
Ôn dịch và virus nghe có vẻ đáng sợ, đến lúc toàn thế giới bị nhiễm thì số người tử vong sẽ phải dùng con số hàng trăm triệu để tính, những ai còn sống sót sẽ bàng hoàng ngơ ngác. Virus mang đến cái chết đáng sợ như thế, nhưng lại rất có linh tính và vô cùng vi quan, giống như tiểu hòa thượng “quét dọn bồn tắm”, cơ bản chúng không hại đến người tốt phù hợp với “Chân Thiện Nhẫn”. Chỉ cần học viên hướng nội tìm, vứt bỏ tâm chấp trước, dùng “Chân Thiện Nhẫn” để đo lường từng suy nghĩ, lời nói và hành động của bản thân. Một khi tâm chính và niệm kiên định, thì giả tướng nào cũng tan biến, cơ bản không là gì cả.
Tuy nhiên, có người ở trong hàng ngũ đệ tử Đại Pháp, thậm chí đã rất nhiều năm, cũng làm một số việc, tâm của họ còn không bằng một người thường sống tốt. Có người đã vi phạm nguyên tắc, đã từng phản bội Đại Pháp, bề mặt là đã quay trở lại, đó là vì hoàn cảnh đã nới lỏng , thực tế là tâm đối với Sư phụ đối với Đại Pháp không kiên định, bản thân mình còn không lừa được, lại còn muốn lừa Thần. Có người phạm phải sai lầm trong tu luyện cá nhân, rời xa nguyên tắc tu luyện, che đậy rồi lại che đậy, đến nay không thay đổi triệt để. Tâm tính của những người này đã rớt không còn chút nào, trên đỉnh đầu không có công trụ. Nếu không có Sư phụ bảo hộ họ thì cựu thế lực đã sớm ra tay với họ rồi.
Khi Sư phụ nói ra hai từ “tất thành”, những virus từ các nơi trên thế giới đã động chân niệm, phát tâm trả lại sự trong sạch cho bộ phận thân thể của người kia, đều chui ra không sót một con. Những tiểu linh thể lực lượng vô cùng lớn mạnh, cùng theo cái huơ tay của Sư phụ, từ đâu đến lại ngoan ngoãn quay trở về đó. Tôi lại nhìn thân thể của những người này, cùng với việc Sư phụ mở miệng nói “tất thành”, toàn bộ được tịnh hóa sạch sẽ.
Sư phụ nâng cao công trụ cho chúng ta
Sau đó, tôi nhìn thấy những học viên được Sư phụ xử lý virus truyền nhiễm và tịnh hóa thân thể. Công trụ trên đầu họ giống như đèn pin đột nhiên được Sư phụ mở, cột ánh sáng trong chốc lát chiếu lên rất cao rất cao. Còn về cao bao nhiêu? Của ai cao, của ai thấp? Ai là ai? Sư phụ đã từng dặn dò tôi không được nói với ai về những tình huống cụ thể này. Tôi nghe lời Sư phụ, nên những người bên cạnh có hỏi tôi cũng không nói, ngay cả một chút ám thị cũng không được tiết lộ. Tôi không để ý những điều này, không đặt tâm vào thứ bề mặt.
Những người đã phạm sai lầm mà tạo thành nghiệp lực, Sư phụ vì họ mà xóa đi sạch sẽ, giống như họ trước nay chưa từng phạm phải. Những người này không cần phải quá tự trách bản thân và thấy mất thể diện. Tự trách và cảm thấy nhục nhã đều là nhân tâm, không giống “dũng cảm đối diện, thẳng thắn phơi bày, hạ quyết tâm cải chính, cố gắng để bù đắp”.
Những người có công trụ rớt xuống, Sư phụ đã thản nhiên vì họ mà cấp thêm. Sư phụ luôn lặng lẽ ban cho chúng ta những thứ tốt nhất và những thứ chúng ta cần nhất, chúng ta nên tự hào, tự tin, lạc quan vì có Sư phụ như thế này, chứ không phải là tự trách và cảm thấy nhục nhã.
Trong thời gian Sư phụ huơ tay, biết bao nhiêu vận mệnh được thay đổi! Bao nhiêu thiên thể được tái tạo! Biết bao hồng ân được ban ra! Nếu biết ơn thì không nên lại tái phạm sai lầm nữa. Nếu như có lương tâm thì hãy làm cho tốt. Sư phụ nhất định sẽ gia trì cho chúng ta! Điều Sư phụ giảng là Pháp, nói chúng ta tất thành, chúng ta sẽ tất thành, chỉ cần chúng ta tìm lại trạng thái tu luyện tinh tấn nhất.
Sư phụ đều đối xử tốt với tất cả mọi người
Tôi đã nói, Sư phụ không phụ lòng bất kỳ ai. Không phải là nói rằng Sư phụ làm cho tôi, không làm cho bạn, cho bạn thứ tốt, không cho tôi lợi lộc gì. Trong Chuyển Pháp Luân Sư phụ đã nói: “Tôi lấy công của mình phân cho các đệ tử đi theo tôi, mỗi người một phần, đều là cục năng lượng hợp thành từ trên một trăm chủng công năng.”
Theo thể ngộ của cá nhân tôi, Sư phụ lấy công của mình cấp cho chúng ta, mỗi người một phần, điều này cho thấy rằng Sư phụ đối với chúng ta đều tốt như nhau. Lấy một ví dụ, nếu như chúng ta đều là những tế bào trên thân Sư phụ, vậy thì Ngài ăn cơm, chúng ta đều cảm thấy no như nhau, chỉ là có những tế bào ở miệng cần phải truyền âm thanh, có tế bào trên cánh tay cần phải làm việc, có tế bào ở chân cần phải đi lại. Đây chỉ là một ví dụ, có lẽ chúng ta là tam thiên đại thiên thế giới trong một hoặc một vài tế bào của Sư phụ, cũng không nói chắc được.
Nếu như một tế bào nào đó nói rằng mình cao hơn cơ thể, hoặc là có thể sánh ngang với thân thể và xưng huynh gọi đệ, thì tế bào đó sẽ bị người khác cười đến chết, bị ánh mắt của người khác nhìn chằm chằm đến chết, bị nước bọt của người khác dìm đến chết.
Lần này tôi nhìn thấy những học viên mà công trụ đã từng rớt xuống đều được Sư phụ cấp lại cho họ, và còn gia trì kết quả tất thành cho họ. Nếu như nói, nhờ có sự từ bi to lớn của Sư phụ mà họ có thể “chuộc lại” bảo bối quý giá nhất của sinh mệnh, thì tiền chuộc mà họ phải trả lại cho Sư phụ chính là: từ nay về sau, tu luyện như thuở ban đầu, dũng mãnh tinh tấn.
Đối với những học viên mà công trụ ở mức cao nhất định nào đó, Sư phụ cũng không bỏ rơi. Sư phụ giúp nhấc công trụ của chỉnh thể lên, hướng đến nơi cao hơn trong vũ trụ, lại đưa chúng ta đi một đoạn đường.
Lần này, Sư phụ thêm một đoạn công trụ cho mỗi một đệ tử Đại Pháp —những người tu luyện chân chính— trên toàn thế giới. Đoạn công trụ này nghìn năm không gặp, vạn năm khó đắc Đoạn công trụ này là để gia trì cho chúng ta “tu luyện như thuở ban đầu, tất thành chính quả”!
Con rồng đỏ Trung Cộng sắp bị chặt đầu
Sư phụ dùng tiếng Trung để giảng Pháp, tôi nghe không hiểu, phiên dịch tiếng Anh kiểu Trung Quốc tôi cũng nghe không hiểu. Trong tâm tôi thầm nói với Sư phụ: Sư Phụ, con nghe không hiểu, con phải làm thế nào ?
Lập tức, tôi nghe thấy ở không gian khác, âm thanh của Sư phụ rền vang, đại ý là: hài tử, không sao cả, con chỉ cần biết rằng cái đầu của con rồng đỏ Trung Cộng sắp bị chặt đứt.
Vứt bỏ chấp trước đối với Sư phụ
Một đồng tu từng chấp trước vào việc ngồi ở hội trường chính của Pháp hội. Vào ngày thứ hai tại Pháp hội San Francisco, cô bỗng nhiên chủ động yêu cầu ngồi ở hội trường bên cạnh. Đến khi người điều phối nói: “Pháp hội đã nhiều năm không làm thêm hội trường phụ, đều ngồi ở sân vận động lớn”, cô mới nghĩ lại. Mặc dù cô đã từng dự Pháp hội ở sân vận động hai năm trước, nhưng bỗng nhiên lại quên hết, tư tưởng trở về trong cảnh tĩnh tọa trong hội trường chính ngày trước. Lần này, cô ấy đã vứt bỏ chấp trước “ao ước được thấy Sư phụ”. Sư phụ từ bi đã khéo léo tạo hoàn cảnh cho đồng tu cơ hội làm lại bài thi, còn an bài cho cô có thể vượt qua.
Sư phụ vốn không chỗ nào là không tồn tại, muốn thấy sao không tự xét mình và hướng nội tu? Tu tốt rồi, ở không gian khác ngày ngày đều thấy; Sư phụ chính là Đại Pháp, muốn thấy sao lại không đọc hết Đại Pháp? Không nên chấp trước vào mắt thịt nhìn thấy Sư phụ, cái tâm này cần phải vứt bỏ. Nếu không, sẽ có thể chiêu mời phiền phức.
Sư phụ dạy tôi “chuộc đồ”
Tôi đã tham gia luyện công tập thể vào ngày thứ hai của Pháp hội. Trong lúc đả tọa, Sư phụ dùng hai chữ “thục hồi” (chuộc lại đồ – ND) viết to ở trên không trung. Tôi minh bạch được rằng, trong khoảng thời gian Pháp hội, Sư phụ đã vì đệ tử Đại Pháp trên toàn thế giới mà làm những gì.
Có người sắp bị tà ác lấy đi sinh mệnh, Sư phụ thay anh ta chuộc lại. Có người làm trái với thệ ước, Sư phụ vì người đó mà cắt đi nghiệp quả, lại còn an bài cho người đó cơ hội thực hiện thệ ước. Có người vốn phải được uy đức, nhưng vì không làm tốt nên không có uy đức, lần này trải qua sự an bài lại của Sư phụ, người đó lại có được cơ hội dựng lập uy đức. Còn đối với những người và việc không thể nào làm lại được nữa, Sư phụ khéo léo thay đổi một chút, người đó lại có cơ hội mới.
Lần Pháp hội này, trong nụ cười từ bi hòa ái của Sư phụ, Sư phụ cho phép những người tu luyện Đại Pháp trên toàn thế giới chuộc lại những cơ hội mình không muốn mất đi nhất nhưng thực tế đã mất đi rồi. Khi Sư phụ giảng Pháp đều không nhắc tới việc này. Nếu như không được Sư phụ cho tôi thấy thì tôi cũng sẽ không biết được sự việc này.
Sư phụ nói với tôi, vốn dĩ chúng ta cũng đã mất đi cơ hội được Sư phụ đích thân dạy chữ Hán, bởi vì Sư phụ dạy trong ba tháng nay, đồng tu đã ngừng học, chúng ta không trân quý cơ duyên. Sư phụ ra hiệu, chỉ cần từ bây giờ chúng ta bắt đầu làm tốt, Sư phụ vẫn sẽ tiếp tục dạy. Giờ đây tôi không còn hoài nghi năng lực của bản thân nữa, năng lực của tôi đều là Sư phụ cấp cho. Tín Sư tín Pháp, tin vào lựa chọn của Sư phụ, tin rằng bản thân mình có thể học tốt tiếng Hán, dù nội hàm có thâm sâu hơn nữa, chúng ta cũng có thể hiểu được rõ.
Sư phụ lại dạy tôi cách viết bài, xin chia sẻ để nhiều người hơn nữa được biết: mỗi lần đều cần phải phát chính niệm trước khi bắt đầu viết, thanh lý bản thân, diệt trừ tà ác, tìm chỗ sạch sẽ, ngồi xếp bằng, trong trạng thái nhập định, tâm thanh tịnh ý ngay chính, viết thành bài viết.
Tôi mong muốn bản thân là cây bút trong tay Sư phụ, với sự dạy bảo của Sư phụ mà viết ra được ý nghĩa chân chính của chữ Hán.
Trên đây là thể ngộ trong tầng thứ hiện giờ của tôi, nên còn có hạn chế, viết ra giao lưu cùng đồng tu.
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/node/137297

Sự quan trọng của Giữ gìn lễ giáo

Sự quan trọng của việc giữ gìn lễ giáo


Tác giả: Đệ tử Đại Pháp tại Yên Sơn 
[ChanhKien.org] Tôi nhớ có một đồng tu nam, có một khoảng thời gian anh đối diện với nguy hiểm rất lớn nên không tiện lưu lại ở nhà. Nhất thời không thể tìm được chỗ ở, bạn gái của anh (cũng là đồng tu) liền bảo anh đến ở nhà mình, nhưng anh cự tuyệt rằng: “Chúng ta không thể làm vậy, như thế này đối với em không có hay lắm.” Tôi rất khâm phục anh ở chỗ anh có thể ý thức được một người nên phải tuân thủ quy phạm đạo đức, trong giao tiếp với người khác giới có thể đề cao việc giữ gìn lễ giáo, tôn trọng người đang giao tiếp với mình như vậy. Phần lớn con người ngày nay, kể cả người tu luyện Đại Pháp, khi sự việc đã trải qua rồi cũng không ý thức được, ngược lại họ còn chê cười những người hành xử chiểu theo lễ giáo là quá cổ hủ !
Dạo trước có một vị đồng tu nữ đã hai lần kể với tôi về một đồng tu nam vì một số việc mà phải ở nhà cô ấy rất muộn, lại còn ngỏ ý ngủ lại. Lần đầu cô không đồng ý, bởi vì là mùa hè, người nhà đều ăn mặc tương đối mát mẻ nên cảm thấy rất không tiện. Lần sau thì nữ đồng tu đã đồng ý cho anh ngủ lại ở nhà mình. Đều là đồng tu trong cùng thị trấn, dẫu muộn đến mấy cũng có cách trở về chỗ mình ở, tại sao lại làm việc không phù hợp với lễ giáo như vậy chứ? Loại sự tình này mặc dù không phải là một hiện tượng phổ biến, nhưng tôi biết được cũng không phải là ít.
Người xưa có câu “lễ tiết dân tâm”, nghĩa là lễ giáo có thể dùng để tiết chế tâm của người ta, tránh khởi lên suy nghĩ bất thiện. Con người mang theo cái tình, nhưng không thể vì có tình mà hình vi không có chừng mực. Lễ giáo này chính là khởi tác dụng khống chế nhân tâm và hành vi của người ta.
Đối với lễ, người ta còn có cách giải thích thế này: lễ chính là phép tắc lễ nghi giao tiếp giữa người với người, là không mạo phạm đến phẩm chất tốt đẹp của người khác, là cung kính hành vi thiện của con người. Trong một chừng mực nào đó, lễ đã duy trì đạo đức của dân tộc Trung Hoa, hơn nữa còn giữ cho nó ở một mức cao nhất định, cho nên từ xưa đến nay Trung Hoa là đất nước lễ nghĩa bậc nhất thế giới, được các nước khác ngưỡng mộ thán phục, và còn phái người đến học tập. Hiện tại lễ nghĩa, lễ giáo của rất nhiều quốc gia châu Á phần lớn đều là học tập từ Trung Quốc. Nhưng từ sau khi tà Đảng Cộng sản cướp đoạt chính quyền, làm cho người ta “vô lễ” triệt để, cho đến ngày nay, đạo lý băng hoại , giữ lễ trở thành một thứ hoàn toàn cổ hủ trong mắt đa số người. Con người tùy ý làm càn, hoang dâm vô độ, lại còn vứt bỏ những hiểu biết và kiến giải của họ về vấn đề này, đạo đức hoàn toàn bị phá vỡ, tiêu vong tận cùng, nước lớn thì thế mạnh, thật đau xót làm sao!
Chuẩn mực để làm một người tốt ở tầng thứ này chính là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín v.v”(Giảng Pháp tại Pháp hội Thụy Sỹ – Bản dịch không chính thức) Như người thường trong xã hội Trung Quốc ngày nay, về phương diện này, những hành vi họ làm ra không có chút hiểu biết gì về lễ giáo, không biết liêm sỉ, không khác gì cầm thú. Là một người tu luyện, chúng ta không thể không kiếm chế hành vi của bản thân mình, nhưng mức độ ước thúc của chúng ta không thể chiểu theo cách của con người ngày nay, mà phải cao hơn. Điều mà tổ tiên lưu lại không phải là không có đạo lý, mặc dù hoàn cảnh xã hội hiện đại và thời xưa khác nhau một trời một vực, nhưng ở một mức độ nhất định, ở phương diện nào đó, tôi phải nói rằng chúng ta cần phải giữ lễ, xuất phát từ lòng tự trọng, xuất phát từ sự tôn trọng đối phương, xuất phát từ sự ước thúc nhân tâm của bản thân, chúng ta không thể làm ra những việc vượt khỏi lễ giáo (ngoài tình huống cực hạn). Nói sâu thêm một điểm, chúng ta dựa vào cái gì để có thể nhận thức được mình đã bước chân ra khỏi lễ giáo, để lần sau những dụ hoặc khác sẽ không thể hiện ra nữa (tà ma ở không gian khác đang nhìn chằm chằm chúng ta), chúng ta dựa vào cái gì để  khống chế bản thân? Lễ là sự chống đỡ tốt nhất cho chúng ta, khi đã vượt qua được rồi, chúng ta không phải là quân tử sao! Chúng ta dựa vào cái gì để biết bản thân không thể lún sâu hơn, dựa vào cái gì để có tự tin như vậy?
Chúng ta phần lớn là trưởng thành trong văn hóa Đảng, một chút đạo lý làm người mà các bậc trưởng bối truyền lại cho chúng ta đã không còn phù hợp tiêu chuẩn làm người nữa. Cho nên đối với đồng tu nào có một số hành vi thất lễ, tôi cũng không có ý trách móc, tôi chỉ nhắc nhở đồng tu trong phạm vi tôi có thể ý thức được mà thôi, học lý niệm làm người, và dùng lý niệm của người để làm người, dùng lý niệm của con người phù hợp với trạng thái của xã hội người thường. Tất cả những gì chúng ta làm phải là ngay chính, vậy thì làm người sao lại có thể lệch khỏi bổn phận, thêm dầu vào lửa? Chúng ta tự hỏi lại mình, chúng ta có xấu hổ hay không khi để lại những hành vi không phù hợp với lễ giáo lưu lại cho tương lai, mặc cho người đời sau đánh giá?
Điều chúng ta đối diện không phải chỉ là bức hại trước nay chưa từng có, mà còn ở chỗ nhận biết được những dụ dỗ mê hoặc, loại mê hoặc này có lúc biểu hiện là từng bước từng bước dẫn dụ con người chìm đắm vào và xem nó như việc “bình thường”. Đại đạo vô hình, Đại Pháp vô biên, có thể không thoát ly thế tục mà tu luyện, nhưng tuyệt đối không phải vì thế mà hạ thấp tiêu chuẩn yêu cầu của người tu luyện. Hoàn toàn ngược lại! Nếu chúng ta không nghiêm túc đối đãi với bản thân, cứ mãi hành xử theo bản tính của mình, thật sự là vô cùng nguy hiểm, đến lúc hối hận thì không kịp.
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/node/13734
7

Giám đốc kinh doanh: Những trải nghiệm tu luyện tại nơi làm việc

Giám đốc kinh doanh: Những trải nghiệm tu luyện tại nơi làm việc

Bài viết của Hiểu Trân, một đệ tử Đại Pháp ở tỉnh Cam Túc, Trung Quốc
[MINH HUỆ 07-08-2014] Tôi là giám đốc điều hành của một công ty nhà nước mới tư nhân hóa. Mặc dù vậy, không có thay đổi nào thực sự diễn ra ngoại trừ việc giờ đây, một số người có thể lợi dụng quyền lực để thâu đoạt lợi ích cá nhân. Vậy nên ở chỗ chúng tôi có đủ các loại mâu thuẫn và tình hình hiện tại rất phức tạp.
Mặc dù công ty chúng tôi có “hệ thống thanh tra kỷ luật” và “hệ thống quản lý”, chúng hầu như bất lực trước nạn tham nhũng trong công ty. Bất cứ ai có quyền đều tìm mọi cách để giành lấy lợi ích cho bản thân. Sự khác nhau có chăng chỉ ở số lượng họ lấy đi. Nếu tôi không tu luyện Đại Pháp, tôi cũng sẽ bị cuốn vào vũng lầy của danh, lợi, tình mà không thể nào thoát ra được. May mắn thay, tôi đã bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp vào năm 1998.
Tu chính bản thân
Sau khi tu luyện, nhờ học Pháp, tôi bắt đầu hiểu được ý nghĩa của cuộc sống. Cùng với việc học Pháp thâm sâu hơn, tôi nhận ra rằng những việc làm của tôi trước đây là sai trái và chúng đang hủy hoại bản thân tôi. Giờ đây, tôi đang được trải nghiệm niềm vui của một cuộc đời được cứu rỗi. Trong cuộc sống hằng ngày và trong các giao tiếp xã hội, tôi bắt đầu chú ý chiểu theo Pháp để phân biệt đúng sai, và bắt đầu chấn chỉnh những hành vi và suy nghĩ không chính của bản thân mình.
Tôi từng lợi dụng chức vụ của mình để lấy lại 4.000 nhân dân tệ từ một khóa học thư tín mà tôi tham dự. Hành động này vi phạm nguyên tắc của công ty nên tôi đã tự nguyện trả lại số tiền đó cho bộ phận tài chính. Trước kia khi tôi còn làm việc tại phòng thí nghiệm, tôi đã mang về nhà nắp của một chiếc nồi nấu bạc và sau này tôi đã mang trả lại. Trước khi tu luyện Đại Pháp, tôi đã mang về nhà rất nhiều đồ gia dụng nhỏ như thiết bị điện và vật tư văn phòng. Sau khi tu luyện Đại Pháp, tôi bắt đầu dùng tiền của mình để mua trả những thứ này.
Vào năm 1998, sau khi tôi kết thúc thời gian học tập tại trường Đại Học Thanh Hoa, một số sinh viên tốt nghiệp cùng đợt với tôi đã phát hành hóa đơn giả. Vào thời điểm đó, vì hiểu biết của tôi về Pháp còn rất nông cạn, nên tôi đã làm giống họ. Tuy nhiên, trong tâm tôi biết việc này là sai, vì thế tôi đã khấu trừ số tiền trên hóa đơn giả khi tôi nhận được phần tiền hoàn lại.
Bây giờ nhìn lại, tôi thấy khi ấy mình vẫn còn những chấp trước người thường rất mạnh. Đôi khi, tôi cảm thấy miễn cưỡng khi làm một số việc. Nhưng đó là lúc tôi mới bắt đầu tu luyện. Tôi đã tiến bộ qua nhiều giai đoạn, từ việc chưa quen cho tới hình thành thói quen làm những điều đúng, từ miễn cưỡng đến thực hiện chúng một cách tự nhiên.
Thời gian trước khi đắc Pháp, tôi là giám đốc một chi nhánh của công ty, và tôi vẫn nghĩ rằng mình đã tương đối trung thực và công bằng trong việc đối đãi với chuyện quà cáp, tiền chiết khấu v.v. Mặc dù tôi không cố ý đòi hỏi những thứ này, nhưng sâu trong tâm tôi nghĩ rằng nhận quà cáp hoặc tiền chiết khấu chẳng có gì sai.
Thời gian trôi qua, tôi có được nhiều quyền lực hơn trong công việc của mình, và lòng tham của tôi cũng tăng lên theo. Nếu tôi không bắt đầu tu luyện Đại Pháp, tôi đã phạm phải rất nhiều tội lỗi.
Khi mới bắt đầu tu luyện, tôi đã trải qua một vài khảo nghiệm về tâm tính trong khi cố gắng loại bỏ chấp trước vào vật chất. Một vài trong số những món quà biếu có giá trị rất lớn. Ngoài ra, thật khó để từ chối quà từ người quen, bạn bè thân thiết, lãnh đạo và những người thân.
Người nhà của tôi không tu luyện Đại Pháp, nên họ không lý giải được những việc tôi làm. Đôi lúc tôi cũng áp dụng phương pháp cực đoan như từ chối gặp mọi người để họ không thể tặng quà cho tôi, hoặc đem trả lại những thứ họ tặng. Thái độ cứng nhắc của tôi nhiều lúc khiến cho sự tình trở nên tồi tệ.
Một lần nọ, tôi trao đổi ý kiến của mình với một đồng tu, và đồng tu này đã nhắc tôi về điều Sư phụ giảng:
“Tôi không phải người bình thường, tôi là người luyện công; các vị chớ đối xử với tôi như thế; tôi là [người] tu Pháp Luân Đại Pháp’. Niệm đầu vừa xuất khởi, “xoẹt” [một cái] lập tức tất cả đều biến mất; nguyên [chúng] là huyễn hoá mà thành.” (Chuyển Pháp Luân)
Tôi bắt đầu hiểu ra rằng chỉ khi một người tu luyện nghiêm khắc yêu cầu bản thân theo tiêu chuẩn của Đại Pháp, người đó mới có thể cải biến hết thảy các trạng thái không chính. Khi tôi gặp lại tình huống này, tôi đã có thể loại bỏ những chấp trước người thường của mình và nói cho mọi người biết về những yêu cầu của Đại Pháp đối với người tu luyện. Tôi đã làm việc này bằng tâm thái hòa ái, do vậy mọi người cũng vui vẻ lắng nghe tôi.
Sau đó, tôi ngày càng ít gặp phải những tình huống loại này. Nếu có những món quà mà tôi thật sự không thể từ chối, tôi sẽ cố gắng tìm cơ hội trả lại hoặc đưa chúng vào sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của công ty.
Trong hai năm qua, tôi phụ trách một dự án công nghệ trị giá hơn hai triệu nhân dân tệ. Trong thời gian này, nhiều nhà máy và công xưởng đã tiếp cận tôi để được tham gia vào dự án. Một số hứa cho tôi rất nhiều tiền. Một số muốn tặng tôi tiền mặt hoặc trái phiếu v.v. để bày tỏ mong muốn được hợp tác. Tôi đã kiềm chế bản thân và không để bị lung lay bởi những đề nghị đó. Tôi nghiêm túc tuân thủ các điều luật và xử lý công việc một cách công bằng.
Đối với người thường không tu luyện Đại Pháp, việc người phụ trách một dự án lớn đến vậy mà không đòi lấy một xu nào quả là điều khó tin. Nhưng là một học viên Đại Pháp, tôi đã làm được. Và tôi đã làm nó một cách tự nhiên chứ không phải bằng cách ép buộc bản thân.
Trong những năm qua, nhiều bộ phận, khách hàng, nhà cung cấp, và các nhân viên trong công ty đã thay đổi cách nhìn của họ về tôi. Họ đã từ không hiểu đến hiểu, và sau đó từ công nhận đến ngưỡng mộ. Một số khách hàng và nhân viên của công ty đã có cơ hội biết đến Đại Pháp, và biết được sự thật về Đại Pháp. Một số người có duyên cũng đã bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.
Chứng thực Pháp
Một bác sỹ chịu trách nhiệm khám chữa bệnh cho nhân viên công ty đã nhận ra và nói với tôi rằng: “Đã lâu ông không đến phòng khám.” Mọi người cũng không tin rằng tôi đã từng phải trải qua phẫu thuật não vào những năm 90. (Sau khi bắt đầu tu luyện, tôi hiểu rằng Sư phụ đã gánh chịu rất nhiều khổ nạn thay cho các học viên.) Trong một số sự kiện thể thao do công ty tổ chức, tôi tham gia đội bóng rổ và đã chơi trọn vẹn cả trận mà không cần nghỉ. Ngay cả những người trẻ cũng không theo kịp tôi.
Trong công ty cũng như trong cộng đồng dân cư nơi tôi sinh sống, mọi người đều biết rằng tôi có thể mặc áo thun vào mùa đông ngay cả khi nhiệt độ ngoài trời là -25o C.
Một số người cảm thấy hoài nghi và cố gắng tìm nhiều cách khác nhau để giải thích những biểu hiện của tôi. Kết quả là không một ai có thể giải thích về nó, vì Đại Pháp vốn dĩ là khoa học siêu thường.
Tôi nhớ đã từng đọc nhiều bài chia sẻ của các học viên về việc họ khỏi nhiều loại bệnh khác nhau như thế nào sau khi nhẩm niệm một số câu đơn giản. Quá trình này không được mô tả chi tiết, và người bình thường khó có thể hiểu được. Trên thực tế, sự hồi phục xảy ra còn kỳ diệu hơn thế. Có lúc, tôi thậm chí đã khỏe mạnh trở lại khi còn chưa kịp nhận ra bất kỳ dấu hiệu bất thường nào.
Ngay cả một người thường, nếu họ chân thành tín tâm vào Đại Pháp, điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Người chú vợ của tôi bị đau mắt cá chân và không thể đi lại được. Ông phải bắt một chuyến tàu vào đêm hôm đó. Tôi bảo ông chân thành niệm “Pháp Luân Đại Pháp hảo. Chân – Thiện – Nhẫn hảo”. Kết quả thật bất ngờ. Khi ông bắt đầu niệm những từ này thành tiếng, ông nói: “Ồ, chú có thể cảm nhận được sự thay đổi.” Cả ông và vợ bắt đầu niệm những từ này liên tục. Đến khoảng 11 giờ đêm, chân của ông đã hồi phục và nhờ thế, ông đã bắt kịp chuyến tàu mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào.
Tôi có một người cháu trai đã kết hôn được vài năm mà không thể có con. Cậu ấy và vợ đã đến gặp rất nhiều bác sỹ nhưng đều không có kết quả. Tôi đã giảng chân tướng cho họ và cả hai đã thoái xuất khỏi ĐCSTQ và các tổ chức liên đới của nó. Cả hai cũng đã ghi nhớ chín chữ “Pháp Luân Đại Pháp hảo. Chân – Thiện – Nhẫn hảo”. Không lâu sau khi xem đĩa DVD buổi biểu diễn Thần Vận mừng năm mới, vợ của cậu đã có thai và sau đó họ đã sinh được một bé trai khỏe mạnh.
“Nước ta hiện nay bất kể là trong doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp khác, mâu thuẫn giữa người với người là cực kỳ đặc biệt.” (Chuyển Pháp Luân)
Trong công việc bình thường hằng ngày, rất nhiều mâu thuẫn xuất hiện đều có nguyên nhân từ sự ích kỷ. Nếu có vấn đề xảy ra, người ta sẽ tìm cách chối bỏ trách nhiệm, hoặc là đẩy nó sang cho người khác. Thậm chí nếu một người biết đó là lỗi của mình, anh ta vẫn cố tìm cớ để chối bỏ trách nhiệm.
Đối với các vấn đề khác nhau và với những đối tượng khác nhau, tôi thường tận dụng những cơ hội như khi gặp gỡ trong các buổi họp hay khi nói chuyện trực tiếp v.v. để khuyên mọi người trước tiên cần hướng nội và cố gắng khắc phục những thiếu sót của bản thân.
Một lần, tại nơi làm việc xảy ra một sự cố liên quan đến chất lượng sản phẩm. Như thường lệ, giám đốc xưởng sản xuất và các lãnh đạo của bộ phận quản lý đã gặp nhau và bắt đầu tranh luận. Mở đầu cuộc họp, tôi nói với họ rằng trước tiên tôi sẽ cố gắng tìm ra những sai sót của bản thân tôi và khắc phục chúng. Bầu không khí lập tức thay đổi. Nhờ bình tĩnh thảo luận, mỗi cá nhân đã dần dần tự nhận ra những vấn đề của mình và sự việc đó nhanh chóng được giải quyết.
Trong những năm tôi còn ở vị trí quản lý, tôi luôn luôn nhấn mạnh vào việc hướng nội. Tôi cũng đề nghị những người trong ban quản lý hướng nội. Nhờ thế, rất nhiều vấn đề và mâu thuẫn đã dễ dàng được hóa giải.
Trong công việc hằng ngày của mình, tôi cũng luôn nghĩ đến người khác trước bất kể là tôi đang làm việc với các lãnh đạo hay nhân viên cấp dưới. Tôi cố gắng làm mọi thứ để hỗ trợ họ và không phản đối họ. Các đối tác của chúng tôi thường nói: “Anh và chủ tịch phối hợp làm việc với nhau rất tốt. Đây là một đội làm việc hoàn hảo. Chúng tôi không có bất kỳ lý do gì mà không hợp tác với các anh.” Trí huệ mà Đại Pháp ban cho chúng ta được biểu hiện qua những việc làm hằng ngày, và điều này đã mang lại một ảnh hưởng rất lớn.
Trong những năm qua, tôi đã làm việc ở nhiều vị trí khác nhau. Trong mỗi dự án mà tôi tham gia, tôi đều có thể nhanh chóng thích nghi với vai trò mới được giao phó. Cách đây vài năm, tôi tham gia kỳ thi tuyển dành cho cấp lãnh đạo. Tôi đạt được điểm số cao nhất trong thành phố. Do ĐCSTQ phát động cuộc đàn áp các học viên Pháp Luân Đại Pháp, họ đã âm thầm loại tên của tôi ra khỏi danh sách những người đủ điều kiện. Tuy nhiên, điểm số của tôi đã tạo được ảnh hưởng lớn trong các doanh nghiệp địa phương. Những người biết rõ sự thật đã bày tỏ sự bất bình với ban giám khảo.
Tổng kết lại chặng đường tu luyện 14 năm qua của mình, tôi cảm thấy bản thân vẫn còn chưa đạt được tiêu chuẩn của một học viên Đại Pháp chân chính, và vẫn còn rất nhiều thiếu sót so với yêu cầu của Sư phụ. Trong một thời gian dài, tôi vẫn không thể loại bỏ được một số chấp trước căn bản.
So sánh với thời gian đầu đắc Pháp, tôi cảm thấy mình không được tinh tấn như trước. Tôi cảm ơn trang web Minh Huệ đã cho tôi cơ hội chia sẻ trên diễn đàn này để tôi có thể tĩnh tâm nhìn lại mình và tu chính bản thân.
Sư phụ giảng:
“Thiểu tức tự tỉnh thiêm chính niệm
Minh tích bất túc tái tinh tấn.” (Lý trí tỉnh giác, Hồng Ngâm II)
Tạm dịch:
“Tự kiểm một hồi thêm chính niệm
Phân tích thiếu sót rồi tinh tấn.” (Lý trí tỉnh giác, Hồng Ngâm II)
Tôi sẽ làm theo những yêu cầu của Sư phụ. Trong khoảng thời gian còn lại ít ỏi này, tôi sẽ cố gắng tìm lại nhiệt huyết mà tôi đã có khi mới bắt đầu tu luyện, và làm ba việc thật tốt.

Đăng ngày 21-10-2014. Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Từ thợ học việc trở thành triệu phú

Từ một thợ học việc trở thành một triệu phú


Bài viết của Đức Phúc, một học viên Pháp Luân Đại Pháp ở Trung Quốc
[MINH HUỆ 12 – 07 – 2014] Năm nay tôi 37 tuổi. Tôi lớn lên ở vùng nông thôn. Tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công vào năm 1997. Nhìn lại quãng đường tu luyện của mình, tôi không thể kìm được xúc động.
Sau khi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công, tôi đã biết được mục đích của cuộc đời mình là gì và tại sao người ta lại đến thế giới này. Tôi tham gia luyện công nhóm và các hoạt động hồng Pháp và đọc Chuyển Pháp Luân mỗi ngày.
1. Quản lý công việc kinh doanh chiểu theo những yêu cầu của Đại Pháp và phát đạt
Tôi từng học việc trong một nhà hàng để trở thành đầu bếp. Vì ông chủ của tôi luôn trả lương trễ, tôi quyết định bỏ việc và tự mở nhà hàng riêng. Tôi cưới một cô gái do bạn của tôi giới thiệu, và chúng tôi cuối cùng cũng tự mở được một nhà hàng nhỏ của riêng mình.
Chúng tôi chăm chỉ làm việc và công việc kinh doanh phát triển thuận lợi. Tuy nhiên, điều đó khiến tôi không có đủ thời gian học Pháp. Tôi thầm nói với Sư phụ trong tâm: “Thưa Sư phụ, nếu con có thể mở một nhà hàng lớn hơn, con có thể thuê người giúp việc để con có thời gian học Pháp.”
Không lâu sau, có người cho tôi xem một địa điểm lớn hơn và chúng tôi đã mở một nhà hàng lớn. Tôi bận rộn đến nỗi không có thời gian học Pháp. Mỗi tối sau khi làm xong công việc, tôi cầm cuốn sách của Pháp Luân Công lên để đọc, nhưng tôi nhanh chóng bị ngủ quên. Tôi tự nhủ: “Mục đích của cuộc đời mình là tu luyện Pháp Luân Công. Làm sao mình có thể tiếp tục như thế này được! Nếu mình có thể mở rộng việc kinh doanh hơn nữa, mình sẽ có thể thuê người khác trông nom nhà hàng. Khi đó, mình sẽ có thời gian để học Pháp.”
Sau đó, tôi nhanh chóng thuê được một cửa hàng bán lẻ 180 mét vuông và mở một nhà hàng còn lớn hơn nữa. Ngày đầu tiên khai trương, hai nhóm khách đến và nói: “Nhà hàng kiểu gì vậy? Bên trong thật là trống trải và hoang vắng.” Rồi họ bỏ đi. Vì việc kinh doanh không được thuận lợi, tôi quyết định học Pháp với tâm thanh tịnh trong khi phát chính niệm. Tôi nhận ra rằng chúng ta không nên tập trung vào việc kiếm được nhiều tiền. Chúng ta nên vui vẻ miễn là có thể đủ sống và có một môi trường để tu luyện Pháp Luân Công.
Sau hai ngày tăng cường học Pháp, tâm trí tôi trở nên thanh tịnh, và tôi cảm thấy môi trường trong nhà hàng của chúng tôi cũng được thanh lọc. Vào ngày thứ tư, một vài khách hàng tới và nói: “Nhà hàng này thật sạch sẽ. Chúng ta hãy ngồi xuống và ăn ở đây.” Tôi biết rằng sau khi tôi từ bỏ chấp trước của mình thì Sư phụ đã giúp đỡ tôi.
Trong những năm sau, nhà hàng của chúng tôi ngày càng phát đạt và nổi tiếng. Sức khỏe của vợ tôi đi xuống vì lượng công việc lớn. Nhưng thật may mắn là không lâu sau đó, cô ấy cũng bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công.
Sư phụ giảng:
“Bộ phận tu luyện [tại] người thường chúng ta, bất kể chư vị có bao nhiêu tiền, làm quan [chức] to đến mấy, chư vị làm kinh doanh cá thể, mở công ty, làm doanh nghiệp gì đi nữa, thì cũng không hề gì; [hãy] giao dịch công bằng, giữ tâm cho chính.” (Bài giảng thứ tư, Chuyển Pháp Luân)
“Có câu thuyết trong quá khứ, kiểu như: ‘mười người buôn chín kẻ gian’; ấy là người thường nói thế; tôi nói rằng đây là vấn đề ‘nhân tâm’. Nếu nhân tâm được giữ cho chính, giao dịch công bằng, [thì] chư vị phó xuất nhiều đến đâu sẽ nên kiếm được tiền nhiều đến đó; ấy là vì ở nơi người thường chư vị phải phó xuất rồi mới được, ‘bất thất bất đắc’, [đây là] cái được nhờ lao động.” (Bài giảng thứ tư, Chuyển Pháp Luân)
Tôi nghĩ: “Vì quản lý nhà hàng là công việc của mình, mình nên kết hợp các nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn vào công việc hàng ngày, để khách hàng thấy được Pháp Luân Công là như thế nào. Mình muốn họ cảm thấy thoải mái khi ăn trong nhà hàng của mình.” Vợ chồng tôi đã quản lý nhà hàng theo nguyên tắc đặt khách hàng lên hàng đầu. Chúng tôi dùng những nguyên liệu có chất lượng tốt nhất để nấu nướng.
Một ngày nọ, một khách hàng đặt 15 bàn cho một bữa tiệc, nhưng lượng khách tới thêm nhiều đến nỗi chúng tôi bị thiếu 10 bàn. Khách hàng đó không biết phải làm gì. Tôi tạm trấn an ông, rồi gọi điện cho bốn siêu thị lớn trong thị trấn và mua một vài món đặc sản của họ để phục vụ tất cả các khách hàng bổ sung.
Cuối cùng, vị khách đó rất vui và không ngừng cảm ơn chúng tôi bởi vì đẳng cấp và chất lượng của bữa tiệc vượt xa số tiền mà ông đã trả. Mặc dù chúng tôi có ít lợi nhuận hơn vì chi phí cao hơn dự kiến, nhưng khách hàng này đã giới thiệu với mọi người về nhà hàng của chúng tôi.
Mặc dù nằm ở vị trí xa xôi, nhưng nhà hàng của chúng tôi ngày càng có nhiều khách hàng trung thành bởi vì chúng tôi hành xử và quản lý việc kinh doanh chiểu theo những lời dạy của Sư phụ. Khi số lượng khách hàng ngày càng tăng, chúng tôi vẫn giữ đúng nguyên tắc của mình và giữ chất lượng phục vụ cao. Chẳng hạn, khi có thịt thừa từ những bữa tiệc quy mô lớn, chúng tôi sẽ không bao giờ sử dụng lại số thịt đó như các nhà hàng khác làm. Thay vào đó, chúng tôi đưa thức ăn thừa cho những nhân viên để họ đem về nhà.
Dịch vụ phục vụ tiệc của chúng tôi được ưa thích đến mức chúng tôi luôn kín lịch đặt trước quanh năm. Năm ngoái, chúng tôi đã mở rộng nhà hàng với tổng diện tích 1.300 mét vuông. Đôi khi không thể đáp ứng hết những đơn đặt tiệc, chúng tôi phải giới thiệu khách tới các nhà hàng khác trong thị trấn.
2. Làm tốt ba việc là trách nhiệm của mỗi học viên
Trong nhiều bữa tiệc ở nhà hàng chúng tôi, chúng tôi luôn mở nhạc do các học viên Pháp Luân Công sáng tác. Một ngày nọ, một khách hàng hỏi người phục vụ bàn tên của những bài hát đó. Khi ông biết được người sáng tác những bài hát, ông yêu cầu những bài hát đó được bật trong buổi tiệc cưới mà ông dự định tổ chức ở nhà hàng chúng tôi.
Những hàng xóm từ quê nhà của chúng tôi đã thấy được sự thành công của chúng tôi, và nhận ra Pháp Luân Đại Pháp là tốt, nên tự nhiên đồng ý thoái ĐCSTQ và các tổ chức liên đới của nó. Một số người cũng bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công. Năm nhân viên trong nhà hàng chúng tôi đã bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công.
Khi tôi nói chuyện với các quan chức chính phủ về Pháp Luân Công, họ dễ dàng hiểu được và đồng ý với điều tôi nói. Một người nói: “Hãy nhìn nhà hàng của ông ấy. Nó thật sạch sẽ, lại còn được quản lý tốt nên chất lượng tốt mà giá cả lại hợp lý. Tôi cảm thấy thoải mái như ở nhà khi ăn ở nhà hàng của ông ấy.” Mỗi khi ông bước vào nhà hàng chúng tôi, ông luôn hô lớn: “Pháp Luân Đại Pháp hảo!”
Nhìn lại, tôi biết rằng tất cả là nhờ sự giúp đỡ từ bi của Sư phụ vĩ đại mà việc kinh doanh của chúng tôi mới thành công. Mỗi khi chúng tôi gặp phải khó khăn, Sư phụ luôn giúp đỡ chúng tôi vượt qua. Một lần nọ, chúng tôi có hai đơn tiệc vô tình được đặt trong cùng một ngày. Chúng tôi rất lo lắng khi ngày hẹn sắp đến gần. Chúng tôi tĩnh tâm lại và bắt đầu đọc Chuyển Pháp Luân. Sau đó, một trong hai vị khách đã gọi điện hủy đơn đặt hàng, mặc dù điều đó đồng nghĩa với việc ông ấy bị mất tiền đặt cọc. Chúng tôi biết rằng Sư phụ đã giúp đỡ chúng tôi. Vị khách đó đã rất biết ơn khi chúng tôi trả lại tiền đặt cọc cho ông ấy.
Một lần khác, một người họ hàng của tôi bị bắt và bị đưa đến đồn cảnh sát địa phương do đánh nhau với một người hàng xóm vì vườn rau của ông. Ông gọi cho tôi từ đồn cảnh sát và xin tôi đến giúp ông. Lúc đó tôi đang đọc sách và còn nhiều trang phải đọc, vì vậy tôi không đi ngay lập tức. Một lát sau, ông ấy gọi cho tôi một lần nữa và nói rằng ông ấy đang bị chuyển đến trung tâm giam giữ. Tôi vẫn không đi. Cú điện thoại thứ ba và thứ tư nói rằng ông ấy đang bị đưa đến sở cảnh sát. Tôi vẫn không đi cho đến khi hoàn thành xong phần mà tôi dự định đọc. Sau khi tôi đọc xong, chính quyền địa phương dùng xe cảnh sát chở người họ hàng đến nhà hàng của tôi. Tôi biết rằng Sư phụ lại giúp đỡ mình.
Tiền quỹ của các học viên là một phần tài nguyên của Đại Pháp. Trong vài năm trước đây, tôi đã hỗ trợ tài chính cho các trung tâm sản xuất tài liệu, các học viên bị giam trong tù, và các học viên cần giúp đỡ. Năm ngoái, một số học viên trong khu vực của chúng tôi bị bắt, và gia đình của họ muốn thuê luật sư để bào chữa cho họ ở tòa. Tôi đã góp ba vạn nhân dân tệ vì một số gia đình không thể chi trả cho số tiền đó.
Đứa con bốn tuổi của tôi giờ đã có thể đọc thuộc lòng toàn bộ Hồng Ngâm. Mỗi khi vợ tôi và tôi nói điều gì không phù hợp với Pháp, cháu lại nhắc nhở chúng tôi: “Cha mẹ không nên nói chuyện như một người thường.”
Đại Pháp đã giúp tôi thành công trong sự nghiệp. Tôi phải luôn hành xử chiểu theo những yêu cầu của Đại Pháp, tinh tấn đề cao, tiến tới viên mãn và trở về nhà với Sư phụ.

Đăng ngày 16-10-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.