Thứ Sáu, ngày 06 tháng 2 năm 2015

Bức ảnh siêu thường chứng minh sự thần kỳ của Phật Pháp

Phật Pháp vô biên, thần tích có thể xuất hiện rõ ràng nơi thế gian, nhưng vẫn có những thế lực tìm cách phá hoại khiến con người không tin vào sự thật này. Tội chồng thêm tội, liệu thiên lý có thể dung tha.

Sư Phụ Lý, Phật Pháp, Nhạc Phi Miếu, bút tích, Bài chọn lọc,
Bút tích của Lý Đại sư tại Nhạc Phi Miếu ở Thang Âm, Hà Nam, năm 1998.
Ngày 11/9/1997, Sư phụ Lý Hồng Chí, người sáng lập Pháp Luân Công, một môn tu luyện của Phật gia, đã đến thăm Huyện Thang Âm, Hà Nam. Vào buổi sáng, Lý Đại  sư trước tiên đến thăm miếu Nhạc Phi được lập trong thị trấn, buổi chiều ông ghé qua làng quê cũ của vị tướng kiên trung này.
Theo lời kể của người quản lý miếu Nhạc Phi, sau khi Lý Đại sư đến, ông bước vào trong nhà, trước nhà sau nhà, trong phòng ngoài phòng đều được xem xét tường tận, xem vô cùng tỉ mỉ, rồi ông tiến đến thắp hương tại điện thờ. Nhìn thấy sau điện, gỗ đá dùng để duy tu xây dựng được chất thành đống, Lý Đại sư quyết định quyên tặng một số tiền. Người quản lý mời ông lưu lại danh tính, nói rõ rằng chiếu theo quy định, người quyên một số tiền nhất định có thể được lập bia lưu niệm, người nào đóng góp nhiều thì ban quản lý có thể lập một bia riêng cho họ. Lúc đó, Lý Đại sư không muốn lưu lại danh tính. Nhưng khi ông bước ra xe, người quản lý đi theo ra đến cửa, khẩn khoản mời để lại danh tính, Lý Đại sư dừng lại  một chút, rồi từ cuốn sổ nhỏ xé ra tờ giấy đưa cho người quản lý. Trên giấy ghi một bài thơ với nhan đề “Du Nhạc Phi miếu” đăng trong cuốn Hồng Ngâm sau này:
“Du Nhạc Phi Miếu
Bi tráng lịch sử lưu thuỷ khứ,
Hạo khí trung hồn lưu thế gian;
Thiên cổ di miếu toan tâm xứ,
Chỉ hữu đan tâm chiếu hậu nhân”.
1997 niên 9 nguyệt 11 nhật vu Thang Âm.
Diễn nghĩa:
“Thăm miếu thờ Nhạc Phi
Lịch sử bi tráng như dòng nước chảy qua rồi,
Hồn của người trung thành khí phách còn lưu thế gian;
Miếu thờ để lại từ thiên cổ ấy nơi lòng chua xót,
Chỉ có tấm lòng son sắt chiếu rọi đến người sau”.
Thang Âm, ngày 11/9/1997.
Sau khi Lý Đại sư đi rồi, người quản lý mời thợ về khắc viết bài thơ trên bia. Tấm bia không lớn, cũng không tuân theo bút tích của ông (chữ người thợ dùng là Khải thư). Do đó, khi các đệ tử Đại Pháp của Sư phụ Lý Hồng Chí ở địa phương đó biết được việc này, họ đã tìm cách chiếu theo bút tích của Sư Tôn để khắc lại một tấm bia thơ mới to lớn, trang nghiêm, đường đường chính chính đặt tại phía đông trước cửa chính điện Nhạc từ đường.
Tuy nhiên, tấm bia đã bị phá bỏ sau sự kiện ngày 25/4/1999, đây vốn là sự kiện chấn động Trung Quốc lúc bấy giờ, khi 10.000 học viên Pháp Luân Công tập trung tại Trung Nam Hải, cơ quan trọng yếu của chính quyền Trung Quốc, để yêu cầu chính phủ ngưng việc leo thang bắt bớ và đánh đập người theo tập môn này. Đây chỉ là cuộc thỉnh nguyện ôn hòa, nhưng Đảng Cộng Sản Trung Quốc sau đó đã vin vào và làm thành cái cớ phát động chiến dịch đàn áp Pháp Luân Công vào ngày 20/7/1999, trong đó có hoạt động mổ sống thu hoạch tạng hòng thu về các khoản lợi nhuận khổng lồ.
Sư Phụ Lý, Phật Pháp, Nhạc Phi Miếu, bút tích, Bài chọn lọc,
Học viên Pháp Luân Công thỉnh nguyện ôn hòa vào ngày 25/4/1999, sau khi tập trung và được chính quyền hứa hẹn nhiều điều, tất cả giải tán mà không để lại chút rác. Nhưng vào ngày 20/7/1999, 100 triệu học viên Pháp Luân Công phải đối mặt với chiến dịch đàn áp tàn bạo nhất trong lịch sử.
Hưởng ứng chiến dịch này, những nhân viên của Đảng ở thành phố Yên Dương, Hà Nam nghe theo mệnh lệnh từ cấp trên vốn có tâm địa hẹp hòi, khơi mào sự tình, bịa đặt viện cớ, đã cố tình đẩy ngã di dời tấm bia thơ này. Lúc đó, rất nhiều đệ tử Đại Pháp địa phương và các nơi khác đã đến để bảo vệ bia. Tiếc là tấm bia thơ này đã bị lực lượng tà ác phá hủy.
Ba tấm hình bên dưới đây là do đệ tử Đại Pháp ở Tây An chụp được vào tháng 11/1998, khi du lịch ở miếu Nhạc Phi, Thang Âm, Hà Nam. Lúc bấy giờ, ảnh được chụp từ  máy chụp phim, sau khi được rửa ra, xuất hiện một điều thần kỳ: tấm bia bằng đá  cẩm thạch đen dày đặc  có khắc bút tích của Lý Đại sư trở nên trong suốt, cảnh sắc người và vật phía sau rõ ràng có thể nhìn thấy được, và lời đề tựa của Lý Đại sư như treo lơ lửng giữa không trung. Thậm chí, “tấm bia đá trong suốt” còn có thể có công năng phản chiếu như một tấm gương, người chụp hình đứng trước tấm bia đá khi chụp cũng nhìn thấy sự phản chiếu mạnh mẽ.
Sư Phụ Lý, Phật Pháp, Nhạc Phi Miếu, bút tích, Bài chọn lọc,
Tấm bia lưu bút tích của Lý Đại Sư vốn là cẩm thạch màu đen đặc, khi chụp lên ảnh lại trở nên trong suốt như gương, chữ như treo trên không.
Sư Phụ Lý, Phật Pháp, Nhạc Phi Miếu, bút tích, Bài chọn lọc,
Ánh sáng phản chiếu khi chụp từ tấm bia thơ để bút tích của Lý Đại sư tại Nhạc Phi miếu, Thang Âm, Hà Nam.
Bức ảnh siêu thường chứng minh sự thần kỳ của Pháp Luân Đại Pháp, chứng kiến một đoạn thời gian khó quên, phát ra nguồn năng lượng thuần chính cường đại hướng đến mọi người.
Mai Mai – Theo Sound of Hope

“Tóc tôi đã mọc trở lại”

[MINH HUỆ 23-12-2014] Khi về quê tham dự một đám cưới, tôi nhìn thấy một người quen đội một bộ tóc giả. Tôi đã hỏi cô ấy về điều đó.
“Tóc của tôi rụng rất nhiều trong vài ngày nay và không hiểu vì lý do gì,” cô nói. “Là một phụ nữ trẻ, tôi có thể làm gì đây? Tôi cảm thấy thật kinh khủng. Vì vậy, tôi đã đến rất nhiều bệnh viện, thử tất cả các loại phương pháp điều trị, uống rất nhiều thuốc và còn dùng cả thuốc bôi lên đầu, nhưng không có kết quả.”
“Tôi đã dành cả gia tài để tìm cách chữa trị. Đôi khi tóc của tôi mọc được một chút nhưng nó lại rụng hoàn toàn trong một thời gian ngắn. Họ nói với tôi rằng đó là triệu chứng rụng tóc và không có cách điều trị. Họ còn nói thêm rằng người bị bệnh này còn có thể chết sớm. Tôi rất sợ.
Tôi nói với cô ấy: “Rất nhiều người bị các căn bệnh nan y đã được chữa khỏi sau khi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Cô biết trước đây tôi đã từng bị đau lưng nghiêm trọng, thậm chí tôi còn không thể đi lại được vì đau đớn. Căn bệnh này đã biến mất sau khi tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.”
Sau đó tôi gửi cho cô ấy một cuốn sách Chuyển Pháp Luân.
Sáu tháng tôi lại về quê. Cô ấy nhìn thấy tôi và vui mừng chạy tới chỗ tôi. Cô nói: “Tóc của tôi đã mọc trở lại. Pháp Luân Đại Pháp thật kì diệu!”
Một em bé mới sinh được cứu
Vợ của cháu trai của tôi đã sinh một em bé vào năm 2006. Cháu đã có một thời gian sinh nở khó khăn vì đứa bé quá lớn. Khi mới sinh, cháu bé bị thiếu oxy và toàn cơ thể xanh ngắt. Bác sĩ nói rằng: “Không còn nhiều hi vọng, cô nên chuyển cháu bé đến một bệnh viện lớn hơn để có thể thử vận may.”
Cháu trai tôi đã chuyển cháu bé đến một bệnh viện cấp thành phố. Bác sĩ ở đó cũng nói rằng cháu bé có rất ít hi vọng sống.
Khi cháu trai tôi nói với vợ chồng tôi về tình hình cháu bé, chúng tôi lập tức bắt taxi đến bệnh viện.
Lúc đó, cháu bé được đặt trong lồng kính của phòng cấp cứu, toàn cơ thể cháu có màu xanh và màu đen và cháu đang chết. Bác sĩ đã hết cách cứu cháu bé. Bà ngoại cháu và chị dâu tôi đang lau nước mắt khi đứng bên cạnh cháu bé.
Tôi nói với chị dâu: “Chị hãy xin Pháp Luân Đại Pháp cứu sống cháu bé. Hãy niệm: ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo’ cho cháu bé.”
Chị ấy nói: “Nếu cháu bé có thể sống, chị sẽ niệm.”
Tôi đến bệnh viện vào ngày hôm sau. Cháu bé đã được chuyển đến phòng bình thường, nhịp tim và hơi thở của cháu đã bình thường trở lại. Cháu cũng không còn màu xanh nữa.
Chị dâu tôi nói: “Chị liên tục niệm: ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo’ cho cháu đêm qua. Sau đó cháu dần hồi phục. Pháp Luân Đại Pháp thật kì diệu. Khi cháu bé bắt đầu biết nói, câu đầu tiên chị sẽ dạy cho cháu là “Pháp Luân Đại Pháp hảo!””

Đăng ngày 03-02–2015. Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thứ Năm, ngày 05 tháng 2 năm 2015

 Chứng kiến sự chuyển sinh của người cha




Tác giả: Đệ tử Đại Pháp tại Đại Lục
[ChanhKien.org] Sư tôn trong Giảng Pháp tại Pháp hội Houston năm 1996 có giảng: “Nếu như người lớn tuổi vì nguyên nhân nào đó thật sự chưa thể viên mãn được, nếu như cuối đời trước khi lâm chung phát thệ: lần sau tôi nhất định phải tu luyện. Vậy thì người đó có thể mang theo Pháp Luân mà chuyển thế, mang theo những thứ đã tu luyện mà chuyển thế, tiếp tục nối tiếp đời trước tu luyện.” (tạm dịch) Những trải nghiệm của cha tôi đã chứng thực những điều Sư tôn từ bi vĩ đại giảng đều là chân lý.
Cha tôi khi còn sống
Cha tôi là một người công nhân bình thường, đắc Pháp khi đã hơn 70 tuổi. Ông vất vả lao động cả đời, tấm lòng thiện lương. Từ khi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, ông rất chăm chỉ học Pháp luyện công. Mặc dù thời gian tu luyện không dài, nhưng thân thể ông đã trải qua rất nhiều biến đổi thần kỳ. Ông nhìn mỗi cuốn sách Đại Pháp đều thấy màu xanh trong suốt rất tươi đẹp.
Trước khi chưa tu luyện, cha tôi bị thoái hóa tiểu não, chân mắc bệnh da nghiêm trọng. Bệnh da này đã dùng các loại thuốc để trị liệu nhưng đều không có hiệu quả, ngứa ngáy khó chịu, khi chịu không được thì dùng tay gãi, gãi đến nỗi da rơi ra trông như hoa tuyết rơi vậy, làm lộ ra lớp da thịt hồng và đốm nhỏ màu hồng nhạt. Ai nhìn thấy đều thương tâm, đau ngứa làm ông ngày đêm không yên. Người nhà vô cùng lo lắng, những cũng chẳng có cách nào.
Sau khi tu tu luyện một thời gian ngắn, Sư phụ liền tịnh hóa thân thể giúp cha, chân của ông suốt ngày chảy nước, mùa đông mặc quần bông cũng đều ướt sũng, ông cảm giác chân của mình giống chân gà bị gặm, chỉ còn sót lại xương. Cứ tiếp tục như vậy sau một khoảng thời gian, bệnh ở chân bao nhiêu năm trị không khỏi của cha tôi đã hoàn toàn khỏi, da chân mềm mại sáng sủa, đầu cũng không còn đau nữa. Cha tôi phấn chấn, mỗi ngày đều dập đầu thắp hương cho Sư phụ. Từ đó về sau ông tu luyện càng tinh tấn hơn, mỗi ngày đều tranh thủ thời gian học Pháp luyện công. Thân tâm ông cảm thấy từ trước đến nay chưa có cảm giác nhẹ nhõm khoan khoái dễ chịu như thế này. Đi đường cảm thấy nhẹ nhàng bay bổng, giống như gió thổi. Sau đó ông tham gia tổ chức Pháp hội lớn ở một thành phố. Không lâu sau cha lại tiêu một lần nghiệp lớn, khi đó cha đang đạp xe ba bánh chở mẹ tôi ngồi phía sau, lúc đi đến ngã tư rẽ phải, vòng qua bùng binh không xa, một chiếc xe tải lớn vừa cao vừa dài đen ngòm xông về phía xe ba bánh, lúc đó trong đầu mẹ tôi trống rỗng, cha thì cảm giác trong phút chốc bị ngã từ chiếc xe ba bánh xuống mặt đường chỗ người qua lại. Khi chiếc xe tải bấm còi hồi lâu và chạy qua trong phút chốc, mẹ vẫn nhìn thấy cha ngồi trên chiếc xe ba bánh. Nhưng cha lại nói với mẹ: “Anh bị xe tải đâm vào, ngã từ trên xe xuống, nằm dài trên đường người qua lại, làm thế nào lại ngồi trên xe chứ?” Mẹ nói: “Từ đầu đến cuối anh vẫn ngồi trên xe mà.
Chiếc xe tải chạy xa khoảng mười mấy mét mới dừng lại, có hai người từ trên xe đi xuống, đi về phía cha mẹ, cha tôi huơ tay biểu thị bảo họ quay lại và đi đi, miệng còn nói: “Các anh đi đi, không sao cả.” Nhìn lại chiếc xe ba bánh cũng chẳng thể ngồi lên được nữa, nên đành đẩy về nhà, về đến nhà chúng tôi nhìn thì thấy bánh xe bên phải bị méo như cái gáo, lốp xe hở ra một vết rách dài , càng xe cũng bị gãy. Xe bị đụng thành như thế, nhưng cha vẫn an toàn không bị sao cả.
Sư tôn trong Giảng Pháp tại Mỹ quốc năm 1997 đã giảng: Kỳ thực, chư vị đừng cho rằng sau khi bị xe tông thì không có chuyện gì cả, thật sự thì một chư vị đã chết rồi, đó là chư vị do nghiệp lực cấu thành. Hơn nữa thân thể đó có tư tưởng, trái tim, tứ chi do nghiệp lực bất hảo cấu thành, đụng chết nó rồi, nhưng nó toàn là do nghiệp lực cấu thành. Chúng tôi làm cho chư vị một việc tốt to lớn nhường này, trừ bỏ nghiệp lực lớn như thế này, dùng nó đền mạng cho chư vị, không có ai khác có thể làm được việc này. Chính là vì chư vị có thể tu luyện, tôi mới làm như vậy, đến khi chư vị minh bạch được mọi chuyện thì chư vị sẽ không cách nào cảm ơn tôi.” (tạm dịch)
Cha biết rằng đó là Pháp thân của Sư phụ bảo hộ, hơn nữa còn tiêu lượng nghiệp lớn như vậy. Thật sự cảm tạ ân đức vô lượng của Sư tôn từ trong tâm. Bởi vì cha cả một đời sống và làm việc, phần lớn thời gian đều dưới sự quản lý và thống trị của tà Đảng, chịu sự độc hại của văn hóa đảng rất sâu, nhát gan sợ sệt, nhất là chưa nhận thức rõ ràng về Pháp. Sau 20 tháng 7 năm 1999, tà ác phát động bức hại Đại Pháp, ông đã không thể kiên trì tu luyện Đại Pháp, bệnh thoái hóa tiểu não nhiều lần tái phát, nhưng chân vẫn mềm nhẵn. Trong trạng thái không thanh tỉnh lại bị tà Đảng bức hại, làm cho đầu óc ông rối loạn, hai chân không thể đi lại, mọi việc đều nhờ người khác chăm sóc. Khi tôi trở về săn sóc ông, nhìn thấy tình cảnh như vậy, trong tâm vô cùng buồn bã, một sinh mệnh có duyên đắc được Chính Pháp lại bị tà Đảng làm hại đến thế này. Nhằm giúp ông tỉnh ngộ, tôi cho ông nghe băng ghi âm của Sư tôn hoặc đọc sách Đại Pháp cho ông nghe. Khi thanh tỉnh, ông nói với vẻ vô cùng kích động: “Cha muốn tu luyện, cha muốn đi cùng Sư phụ!” Chính vì một niệm này xuất phát từ trong tâm, đã đặt định cơ sở cho cha sau này chuyển sinh. Sau khi chăm sóc cho cha được một khoảng thời gian, bởi vì con gái tôi ở nơi khác sắp sinh con, cần tôi đến giúp đỡ. Gần trước lúc đi, tôi đến phòng chào tạm biệt cha. Nhìn thấy cha đang ngủ ngon, tôi không đánh thức ông dậy, thế là vội vã rời đi, không ngờ rằng đây lại là lần vĩnh biệt của tôi với cha trong kiếp này.
Sự chuyển sinh của cha
Con gái tôi vì trở dạ nên phải nằm viện. Sáng ngày thứ ba, tôi nhận được điện thoại của chồng gọi đến, nói cha tôi đã qua đời lúc sáng, khi đó tôi vô cùng đau khổ. Tối cùng ngày hôm đó đứa bé được sinh ra. Trong Giảng Pháp tại Mỹ quốc năm 1997 có một đoạn:
Đệ tử: Thưa, khi nào chủ nguyên thần nhập thể….
Sư phụ: Khi chủ nguyên thần nhập thể thông thường đều là không lâu trước khi chào đời. Nhưng thời gian cụ thể thì không cố định. Có thể vào trước thời khắc chào đời, có thể rất sớm trước khi sinh, nửa tháng, một tháng, hoặc là sớm hơn, tất cả đều có thể.” (tạm dịch)
Chủ nguyên thần của cha chính là buổi sáng sớm hôm đó đã thoát ly khỏi thân thể trong kiếp trước, cũng trong cùng tối ngày hôm đó đã tiến nhập vào thân thể trong kiếp này với sinh mệnh mới. Sự thật về sự chuyển sinh của cha tôi đã chứng minh rằng luân hồi chuyển thế là sự thật khách quan vô cùng chính xác, tuyệt đối không phải là mê tín. Dưới đây xin đưa ra một vài ví dụ chứng minh sự thật này.
Khi đứa bé sinh ra, mắt cháu liếc nhìn khắp nơi, không khóc chút nào, nhìn thấy bố của mình cũng không khóc. Khi đó hộ sĩ nói: “Đứa bé này không khóc, thật là ngoan!” Nhưng mà, đặt đứa bé lên xe, khi đẩy ra ngoài hành lang, lúc này đứa bé nhìn thấy tôi, bỗng nhiên bắt đầu khóc. Có lẽ là vì đứa bé nhận ra tôi là con gái của nó trong kiếp trước! Tôi vào  phòng, phát hiện tướng mạo của đứa bé và ánh mắt rất giống cha tôi.
Trước khi bé chào đời, con gái tôi có một giấc mơ, nó mơ thấy ông ngoại đang lắp đặt bình gas, nhưng một đầu ống dẫn gas đã cháy rồi, con gái tôi vội vã ôm và cứu ông ngoại ra ngoài. Còn có một lần là sau khi đứa bé được sinh ra, con gái tôi trong thời gian ở cữ, mơ thấy ông ngoại mặc một chiếc áo khoác màu nâu đi về phía nó, con gái tôi hỏi: “Ông ngoại khỏi ốm chưa?” Ông cười, nhưng vì trong miệng không còn cái răng nào để nói, nên ông hôn một cái lên mặt của con gái. Khi con gái kể chuyện này với tôi, nó nói rằng thật kỳ lạ, sao lại mơ như thế. Khi đó trong tâm tôi nhẩm lại. Bởi vì con gái tôi được cha mẹ tôi nuôi lớn, nên tình cảm sâu nặng. Tôi lo lắng con gái đau lòng mà ảnh hưởng đến việc hồi phục sức khỏe, nên không nói chuyện cha tôi đã qua đời cho nó nghe.
Sau khi tròn một tuổi, cháu bé rất thích xem ảnh. Mỗi khi xem đến ảnh chụp chung có tôi, chồng và con gái tôi, nó liền bật khóc, lộ vẻ buồn bã. Việc này xuất hiện nhiều lần. Nhưng mà mỗi khi cháu không khóc nữa, chúng tôi lại hỏi cháu vừa rồi vì sao mà khóc? Cháu lại không thừa nhận và nói con có khóc đâu! Bởi vì một phần ký ức ở kiếp trước của bé không bị khóa, nên khi nhìn thấy ảnh đã làm cháu nhớ lại, nhưng sau khi khóc xong lại trở về với hiện thực.
Khi đứa bé được khoảng năm tuổi, một hôm đang nhảy nhót chơi trên giường, bỗng nhiên cháu nói với tôi: “Cháu mặc quần áo màu đen đến, vác một bọc vải to, đến đây cháu lại thành ra dáng vẻ như hiện nay.” Khi đó, đứa bé vừa làm tư thế tay, vừa chỉ vào mình, trông vô cùng đáng yêu.
Tình cảm của chúng tôi với cháu rất sâu đậm, sau này vì chúng tôi và cháu cùng sống với nhau, nên làm cho cháu có thể nhớ lại nhiều hơn những sự việc của kiếp trước. Một hôm, tôi và chồng dẫn cháu ra ngoài chơi, cháu đột nhiên nói với tôi: “Cháu đã đi qua nơi nào nơi nào đó, nơi đó đã làm cháu mệt lừ, cả ngày bận rộn, bận rộn! Sau này lại về quê nhà bà dì cả ở Đông Bắc.” Khi đó tôi và chồng đều kinh ngạc. Sự việc là như vầy, khi ấy nơi chúng tôi ở có sản xuất một số sản phẩm, do vấn đề chất lượng sản phẩm nên cần phải chỉnh lại, cho nên cha tôi đã đến giúp chúng tôi. Khi đó đúng là rất mệt, mỗi ngày đều không có thời gian rảnh rỗi. Bận việc xong, cha tôi quay trở về nhà chị gái tôi ở Đông Bắc (cháu bé gọi chị gái tôi là bà dì cả). Từ trước tới giờ chúng tôi chưa nói với cháu bé về sự việc này, có thể thấy đây là sự việc mà cha tôi đã trải qua, sau khi chuyển thế vẫn lưu lại trong ký ức.
Một hôm, tôi và chồng đang nằm trên giường, cháu bé ôm cổ tôi nói: “Đây là con gái của cháu, là đứa con gái có thể vì người khác mà làm việc nhất trong nhà chúng ta. Cháu vẫn còn một người con gái lớn ở nhà của bà dì cả”. (Kiếp này của bé gọi người con gái lớn kiếp trước là bà dì cả). Có một lần, cháu lại bắt đầu nói về chuyện của kiếp trước, tôi bỗng nhiên hỏi cháu: “Cháu có biết người này người này không?” (người đó là mẹ của tôi). Không ngờ cháu bé trả lời một cách thẳng thắn: “Biết, bà ấy nấu cơm cho cháu”. Tôi lại hỏi bé, người đó dáng vẻ thế nào, câu trả lời về tướng mạo người đó giống hệt như mẹ tôi.
Còn một lần nữa, cháu nói: “Cháu cần phải về nơi nào nơi nào ở Đông Bắc, đó là nhà của cháu, người đó người đó (em trai tôi) là con trai cháu”. Lại có một lần, cháu cầm một hộp nhỏ đặt lên tai, giả vờ giống như đang gọi điện thoại và nói: “Cháu phải gọi điện cho người đó người đó (em trai tôi), bảo cậu ta chăm sóc cụ ngoại cho tốt (mẹ tôi)”.Alo, anh là người này người này phải không? Cụ bà bị bệnh, anh phải chăm sóc cụ cho tốt đấy”.
Bạn của chúng tôi đến chơi, chồng tôi hỏi cháu, cháu có quen họ không? Không ngờ cháu nói thẳng thắn rằng: “Quá quen chứ”. Lại hỏi về người khác trong gia đình, cháu nói: “Quá quen”. Thì ra cha tôi khi còn sống đều có ấn tượng rất sâu sắc về họ. Khi tôi nói về tên của người đồng nghiệp đã từng làm việc cùng cha tôi, cháu trả lời: “Người này cháu có quen”.
Kiếp này, cháu bé cũng đang tu luyện trong Đại Pháp. Có một hôm, chồng tôi nói với cháu: “Quyển sách Đại Pháp này là một bộ Thiên Thư…”, cháu nghe đến đây, liền xúc động nằm bò trên bàn, nước mắt muốn rơi ra. Chồng tôi hỏi cháu vì sao. Cháu nói, cháu nhìn thấy cuốn sách Đại Pháp này lấp lánh ánh kim. Kiếp trước, khi cha tôi tu luyện, nhìn sách Đại Pháp đều là màu xanh tươi mới và trong suốt, vô cùng đẹp! Cháu nhìn thấy cuốn sách “Tinh Tấn Yếu Chỉ”, lật lật rồi nói: “Cháu đã từng mua cuốn sách này”. Thật sự, cha tôi khi mới tu luyện, khi đó ông đã từng mượn qua cuốn sách này.
Dịch từ: http://www.zhengjian.org/2014/09/10/136169.见证父亲的转生.html

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 1 năm 2015

Hồi ức về Sư phụ tôn kính truyền Pháp tại thành phố Đại Liên, phần 1



[MINH HUỆ 28-03-2006] Tháng 03 năm 2006 là kỷ niệm 12 năm Sư phụ truyền Pháp tại Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc. Với lòng kính trọng vô hạn, những học viên lâu năm ở Đại Liên đã hồi tưởng lại quãng thời gian quý báu này khi vinh dự được nghe Sư phụ tôn kính giảng Pháp tại Đại Liên. 12 năm trước, chúng tôi đã được nghe đích thân Sư Phụ giảng Pháp, và đã chứng kiến những khó khăn, vất vả mà Sư phụ phải chịu đựng, cũng như được chứng kiến sự kỳ diệu và uyên thâm của Phật Pháp. Ngày ấy, chúng tôi như được bao bọc trong sự từ bi vô biên mà Sư phụ dành cho.
I. Sư phụ dẫn dắt chúng tôi bước trên con đường tu luyện Pháp Luân Đại Pháp
“Tầm Sư kỷ đa niên
Nhất triêu thân đắc kiến
Ðắc Pháp vãng hồi tu
Viên mãn tuỳ Sư hoàn”
(“Duyên Quy Thánh Quả”, Hồng Ngâm)
Tạm dịch
“Biết bao năm tìm Thầy
Một sớm mai tiếp kiến
Ðắc Pháp tu trở về
Viên mãn về theo Thầy”
(“Duyên quy Thánh quả”, Hồng Ngâm)
Mỗi đệ tử Đại Pháp đều có những trải nghiệm riêng của mình khi đắc Pháp. Có vẻ như đây là kết quả của một chuỗi các sự việc trùng hợp, nhưng thực ra đó là kết quả của mối duyên tiền định của mình với Đại Pháp. Sư phụ đã đưa chúng ta bước vào tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Chúng ta phải biết trân quý mối duyên tiền định quý báu mà sẽ không bao giờ trở lại này. Sau đây là câu chuyện đắc Pháp của hai học viên.
A) Mối tiền duyên tu luyện Phật Pháp đã chỉ đường cho tôi
Một lần, khi còn là một học sinh phổ thông trung học, tôi có một giấc mơ. Trong giấc mơ, tôi quay trở về một niên đại xa xưa, khi tôi được một vị hòa thượng Phật giáo trong tấm áo choàng màu vàng dẫn đạo. Mọi thứ trong giấc mơ đều rõ ràng và đã để lại cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc. Thế là, năm 1980, tôi bắt đầu tìm đến các danh sơn, tự viện để tìm kiếm sư phụ của mình, nhưng vô vọng.
Tháng 10 năm 1993, tôi tới An Khâu, tỉnh Sơn Đông vì có công chuyện làm ăn. Một ngày giữa trưa khi đang ở trong phòng khách sạn, tôi thấy một luồng ánh sáng bạc bay về phía mình và xuyên thẳng vào trán. Ngay lập tức, tôi cảm nhận được một luồng lực mạnh mẽ kéo tôi về phía trước với một tốc độ không thể tưởng tượng được và để lại mọi thứ đằng sau. Sau đó, đột nhiên tôi nhìn thấy một vị Phật, nhìn rất từ bi và hòa ái. Tôi ngây người vì kinh ngạc bởi mọi thứ hiện ra chân thật ngay trước mắt tôi và đó không thể là ảo giác được. “Như vậy, các vị Thần Phật thực sự có tồn tại trên thế giới này!” tôi nghĩ. Một cảm giác kinh ngạc pha lẫn bối rối, tôi chạy vội ra ngoài và gọi điện thoại cho bạn bè để hỏi ý kiến họ về việc này. Họ đều nói rằng được nhìn thấy Phật quả thực là việc may mắn và người ta sẽ được nhìn thấy Phật nếu họ có niềm tin vào Phật.
Được tận mắt nhìn thấy Phật đã hoàn toàn xóa đi những quan niệm về chủ nghĩa vô thần và mê tín dị đoan mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhồi nhét vào đầu tôi. Kể từ đó, tôi bắt đầu đọc các kinh thư Phật giáo một cách có hệ thống và ghi nhớ Đạo Đức Kinh (một cuốn sách cổ của Đạo giáo). Trong giai đoạn phát triển cao trào của khí công, tôi đã tham gia vào rất nhiều lớp khí công để tìm kiếm chân lý, nhưng lần nào cùng thất bại. Một điều kỳ lạ là, dù bất kể tôi có tham gia vào lớp khí công nào, thì có một vị Phật vẫn luôn luôn theo cạnh bên tôi. Vị Phật đó lớn đến nỗi, tôi chỉ có thể nhìn thấy một phần khuôn mặt của Ngài. Giờ nhớ lại, tôi nhận ra rằng đó chính là Pháp thân của Sư phụ đã đi theo chăm sóc, che chở cho tôi, một đệ tử lạc lối. Sư phụ từ bi và tôn kính của chúng ta đã phải chịu đựng biết bao khó nhọc để cho các đệ tử của Ngài đắc được Pháp và trở về với bản ngã chân thật của mình.
Trước dịp Tết Nguyên Đán năm 1994, một người bạn học của tôi ở Bắc Kinh tới thăm và nhiệt tình giới thiệu Pháp Luân Công cho tôi. Bạn tôi nói Pháp Luân Công rất nổi tiếng ở Bắc Kinh và có hàng chục lớp học đã được tổ chức và ngày càng có nhiều người theo học. Anh ấy đặc biệt đề cập đến việc Sư phụ Lý Hồng Chí là người siêu thường như thế nào. Một lần, anh ấy đã có cơ hội được quay phim về việc Sư phụ Lý truyền công tại chùa Giới Đài, Bắc Kinh. Khi đang quay đến bài công pháp thứ ba “Quán thông lưỡng cực Pháp” thì bỗng có một luồng gió mạnh thổi tới, khiến những hàng cây thông dày đặc cũng phải ngả nghiêng trong gió. Người bạn nói: “Gió thổi mạnh quá khiến tôi không thể quay thêm được gì nữa.” Sau đó, Sư phụ điềm tĩnh nói với anh ấy: “Khi nào điều chỉnh lại máy xong nói cho tôi biết, tôi sẽ làm cho gió ngưng lại.” Khi nghe Sư phụ nói vậy, anh ấy thầm nghĩ: “Làm sao mà Ngài có thể dừng được một cơn gió mạnh như thế này đây.” Tuy nhiên, anh vẫn nhanh chóng điều chỉnh lại máy quay và nói: “Sư phụ Lý, máy đã được điều chỉnh lại xong.” Trước khi anh kịp nói dứt câu, thì gió xung quanh Sư phụ đã dừng lại, thậm chí đến cả một sợi tóc cũng không lay động. Tuy nhiên cách chỗ Sư phụ đứng vài mét thì gió vẫn tiếp tục thổi mạnh, và hàng cây thông vẫn ngả nghiêng trong gió. Khi quay đến bài tĩnh công thiền định, thì chân của máy quay bị nghiêng và ống kính không tập trung được vào Sư phụ. Anh thầm nghĩ nếu Sư phụ di chuyển sang phải được một chút thì tốt quá. Sau đó anh đã thấy Sư phụ đang ngồi thiền định bỗng nhẹ nhàng nhấc bổng lên và di chuyển sang phải như thể có một người nào đó nâng Sư phụ lên từ phía sau vậy. Sự việc này đã khiến anh bạn tôi vô cùng kinh ngạc và nghĩ rằng Sư phụ thực sự không phải là người thường. Bây giờ nghĩ lại, quả là Sư phụ đã an bài cho anh bạn tôi tới để giúp tôi tìm Đại Pháp và cuối cùng đắc được Pháp.
Ngày 27 tháng 03 năm 1994, lớp học Pháp Luân Công đầu tiên với hơn 500 người tham dự đã được tổ chức tại giảng đường của Học viện Ngoại ngữ thành phố Đại Liên. Ngày đầu tiên, tôi ngồi ở hàng ghế phía sau. Mặc dù không thể nhìn rõ được Sư phụ, nhưng những Pháp lý tinh thâm mà Sư phụ giảng đã khiến tôi xúc động sâu sắc, và không biết tự bao giờ nước mắt tôi đã lăn dài trên khuôn mặt. Toàn tâm và thân tôi như được tắm gội trong sự từ bi vô biên của Phật Pháp và tôi chưa từng bao giờ cảm thấy mới mẻ và huyền diệu như vậy. Lúc đó, tôi cảm thấy có cái gì chỗ tĩnh mạch nơi mu bàn tay phải của tôi biến mất và cơ thể tôi được tịnh hóa.
Đến ngày thứ hai, tôi ngồi ở hàng ghế thứ hai với một máy ghi âm đã được chuẩn bị sẵn sàng để ghi lại bài giảng ngay từ phút đầu tiên. Khi nhìn lên, tôi đã thấy Sư phụ đang ở trên sân khấu. Tôi đã kinh ngạc khi phát hiện ra Sư phụ chính là vị Phật mà tôi đã nhìn thấy ở An Khâu. Chẳng phải đây chính là vị sư phụ mà tôi đã tìm kiếm và chờ đợi trong hàng triệu năm hay sao! Không kìm được nước mắt, tôi đã nghe Sư phụ giảng Pháp với những giọt nước mắt chảy dài trên khuôn mặt. Sau khi bài giảng kết thúc, tôi chạy vội về phía Sư phụ và thầm kêu lên: “Sư phụ, cuối cùng thì con cũng đã tìm được Ngài!” Sư phụ đang nói chuyện với vài học viên lâu năm ở nơi khác đến. Tôi chen vào đám đông và đứng trước Sư phụ. Lúc đó, tôi chưa biết hợp thập, do đó, tôi chìa tay ra và nói: “Chào Sư phụ!” Sư phụ nhìn tôi và bắt tay tôi. Tôi nhìn Sư phụ, khoảnh khắc đó như kéo dài vài thế kỷ. Khi chợt bừng tỉnh, tôi chạy vội ra khỏi giảng đường, ngửa mặt lên trời và hét lên đầy phấn khích: “Tôi tìm được Sư phụ rồi! Tìm được vị chân Phật rồi!” Mối tiền duyên của tôi với Phật đã mách đường cho tôi tìm được vị chân Phật mà tôi đã nhiều năm trời chờ đợi. Giờ đây, Sư phụ đang dẫn dắt tôi trên con đường tu luyện Đại Pháp.
B) Sư phụ tịnh hóa thân thể để cho tôi tu luyện
Một học viên khác kể về chuyến đi đặc biệt của cô để đắc Pháp.
Tôi từng là người mắc rất nhiều bệnh tật và có nguy cơ bị bại liệt. Tôi đã bị chẩn đoán nghẽn mạch máu não, trượt đĩa đệm, và các bệnh khác. Tôi đã từng phải nằm viện khoảng năm hay sáu lần gì đó. Các kỹ thuật tiên tiến và thiết bị y học hiện đại hầu như không giúp gì được cho bệnh tình của tôi.
Vào khoảng đầu năm 1994, khi đã hoàn toàn tuyệt vọng, một người bạn đã cho tôi một cuốn Pháp Luân Công Trung Quốc và một băng thu âm các bài giảng Pháp của Sư phụ. Người bạn này nói rằng Công này thực sự rất tốt và khuyên tôi nên tham gia vào lớp học mà sẽ được tổ chức vào khoảng nửa tháng tới ở Đại Liên. Đêm đó, chồng tôi đã đọc một mạch hết cuốn sách và liên tục nói rằng cuốn sách thật tuyệt và nói tôi nên đọc nó. Sau khi đọc xong cuốn sách, tôi thấy rằng đó là những điều mà tôi chưa từng được đọc trước đây, do đó, tôi rất muốn tham gia lớp giảng Pháp của Sư phụ.
Lớp học khai giảng vào ngày 27 tháng 03 năm 1994. Chồng tôi đã cõng tôi tới giảng đường. Tôi ngồi trên một băng ghế dài, người được phủ kín từ đầu đến chân. Tôi mặc một cái áo khoác dài, với một cái chăn đệm quấn phía dưới. Khoảng 10 phút trước khi lớp học bắt đầu, người phụ trách ở Hiệp hội Khí công thành phố tới thuyết phục chúng tôi trả lại vé và rời khỏi khán phòng. Tôi kiên quyết phản đối. Chồng tôi đi vào phía sau hậu trường và thấy Sư phụ đang ở đó. Anh ấy giới thiệu ngắn gọn về tình trạng của tôi với Sư phụ và Sư phụ nói: “Tôi ở đây không phải để chữa bệnh.” Chồng tôi nói: “Không, chúng tôi tới đây không phải để chữa bệnh, cách đây nửa tháng chúng tôi đã đọc sách và nghe băng thu âm của Ngài. Chúng tôi tới đây để học công.” Sau đó, Sư phụ nói: “Học viên này có ngộ tính tốt, để tôi xem sao.”
Sư phụ bước xuống sân khấu và đi về phía tôi. Tôi ngay lập tức đứng dậy, nhưng Ngài nói tôi cứ ngồi xuống. Sư phụ đập mạnh vào cổ tôi và tiếp sau đó là một cái vỗ nhẹ. Sư phụ cũng làm tương tự như vậy với đầu và vai tôi, sau đó Sư phụ yêu cầu tôi đứng dậy và bước đi. Khi tôi bước được vài bước, Sư phụ nói tôi dừng lại rồi Ngài lại làm tương tự với hai chân tôi. Toàn bộ quá trình đó mất khoảng hơn hai phút. Lúc này, Sư phụ nói: “Mọi thứ đã xong, thử đi bộ vòng quanh xem.” Tôi bước vòng quanh sân khấu hai vòng và nhiều học viên đã đứng dậy vỗ tay cổ vũ. Sau khi tôi quay trở về chỗ ngồi, vài học viên ngồi phía sau nói rằng tôi là người may mắn nhất. Họ đã đi theo Sư phụ và tham gia vào các lớp giảng Pháp được tổ chức ở các nơi nhưng chưa bao giờ họ nhìn thấy Sư phụ chữa bệnh cho ai cả. Tôi nói: “Chính tôi cũng chưa bao giờ dám hy vọng điều này, tôi thật may mắn.” Sau buổi học, Sư phụ hỏi tôi: “Cô có thấy cổ mình cử động nhẹ nhàng hơn không?” Tôi trả lời là có. Sư phụ cũng nói với chồng tôi rằng tôi sẽ có cảm giác như bị điện giật khi Ngài vỗ vào cổ tôi. Thực ra, tôi đáng lẽ đã tránh được rất nhiều cuộc phẫu thuật mà tôi đã phải chịu đựng. Những lời của Sư phụ làm tôi cảm thấy thoải mái và ấm áp.
Sau buổi học đầu tiên, chồng tôi vẫn muốn cõng tôi rời khỏi giảng đường. Tôi nói với anh là tôi sẽ tự đi. Sau khi bước được bước đầu tiên, tôi cảm thấy chân mình rất nhẹ. Thực vậy, tôi đã tự đi bộ về nhà. Khi về tới nhà, chồng tôi lại đề nghị cõng tôi lên tầng ba, vì nhà của chúng tôi ở đó. Tôi nói với anh là tôi thử cố xem sao. Tôi đã có thể bước lên cầu thang. Đến ngày thứ hai, tôi đã có thể tự bước xuống cầu thang và đi bộ được. Tôi, vốn là một bệnh nhân nằm liệt giường đã lâu, nay đã trở thành một người khỏe mạnh chỉ trong vòng hai phút. Người thường không thể tin nổi việc này, nhưng điều kỳ diệu này thực sự đã xảy ra với tôi.
Sau ba tháng tu luyện, tôi đã có thể cùng với các học viên khác bắt xe buýt đi đón Sư phụ và tới lớp học khi khóa giảng Pháp thứ hai được tổ chức.
Sư phụ giảng:
“Ở đây tôi không giảng trị bệnh; chúng tôi cũng không trị bệnh. Nhưng là người tu luyện chân chính, chư vị mang theo thân thể có bệnh, [thì] chư vị tu luyện không được. Tôi phải giúp chư vị tịnh hoá thân thể. Tịnh hoá thân thể chỉ hạn cuộc cho những ai đến học công chân chính, những ai đến học Pháp chân chính.” (Chuyển Pháp Luân)
Đoạn Pháp này khiến tôi đột nhiên nhận ra rằng mục đích của sinh mệnh là tu luyện để quay trở về với bản ngã đích thực của mình. Sư phụ đã tịnh hóa thân thể tôi là để cho tôi có thể đắc Pháp và tu luyện, chứ không phải để cho tôi sống cuộc sống của người thường. Sư phụ từ bi đã đưa tôi đi trên con đường tu luyện và cho tôi trở thành một đệ tử Đại Pháp thời kỳ Chính Pháp.
II. Những khung cảnh kỳ diệu mà Đại Pháp triển hiện khiến học viên kinh ngạc và mê mẩn
Trong suốt khóa học đầu tiên được tổ chức ở Đại Liên, một học viên đã được nhìn thấy những cảnh tượng tráng lệ và thù thắng trong các không gian khác trong khi nghe Sư phụ giảng Pháp. Anh nhìn thấy các vị Thiên binh Thiên tướng cùng với rất nhiều các vị Thần hộ Pháp ở khắp nơi. Anh đã vui mừng đến phát khóc. Dưới đây là hồi ức của người học viên này.
Sư phụ đã giảng Pháp tinh thâm theo một cách rất dễ hiểu. Trước đây, tôi đã đọc một vài cuốn kinh thư và đã tham gia vài lớp khí công khác, nhưng tôi chưa từng được nghe điều gì tinh thâm như vậy. Không có môn khí công nào giải thích về nhân loại rõ ràng như vậy và cũng không có môn khí công nào giải thích về sinh mệnh và vũ trụ sâu sắc như vậy cả. Mỗi lời Sư phụ nói đều là Thiên cơ và khiến tôi rung động. Không có gì có thể so sánh được với một đại Pháp vĩ đại nhường này cả.
Tôi cảm giác thấy như tâm hồn mình càng lúc càng khoáng đạt rộng mở khi nghe Sư phụ giảng Pháp. Như thể sinh mệnh mình càng lúc càng lớn hơn, cảnh giới càng lúc càng cao hơn. Tất cả những cảm giác này đã làm tăng cường quyết tâm tu luyện của tôi. Sau đó, tôi đã có cơ hội đưa Sư phụ đi thăm quan Đại Liên. Khi đi ngang qua nhà mình, tôi cáo lỗi với Sư phụ: “Sư phụ, xin lỗi con không dám mời Ngài ghé thăm nhà con vì nó rất nhỏ và không được gọn gàng, ngăn nắp cho lắm.” Sư phụ không nói gì nhưng Ngài nhìn tôi. Bỗng nhiên, một ý nghĩ đột ngột xuất hiện trong đầu tôi: “Đây không phải là nhà của con, ngôi nhà thực của con tuyệt diệu mỹ hảo vô cùng.” Tôi cảm giác như bừng tỉnh, như thể nhìn thấy được ngôi nhà tuyệt vời trong tương lai của mình.
Tôi cảm giác mình như một đứa trẻ khi ở bên cạnh Sư phụ. Tôi nói bất cứ điều gì muốn nói, hỏi bất cứ điều gì muốn hỏi. Sư phụ thường cho tôi câu trả lời thỏa đáng nhất. Bất kể tôi có gặp phải khó khăn như thế nào, Sư phụ đều chỉ cho tôi cách giải quyết. Tôi thực sự cảm thấy Sư phụ là Đấng toàn năng và Đại Pháp là toàn năng. Tất cả những gì mà Sư phụ làm cho chúng ta đều là tốt đẹp nhất.
Đã nhiều năm trôi qua kể từ lần cuối cùng tôi gặp Sư phụ. Tuy nhiên, dù bất kể có gặp vấn đề gì trong tu luyện, tôi vẫn thường thầm nói chuyện với Sư phụ hay hỏi Sư phụ trước tấm hình của Ngài. Sư phụ vẫn thường cho tôi câu trả lời. Chừng nào tôi còn tín Sư tín Pháp, thì không có khảo nghiệm nào mà tôi không thể vượt qua. Tôi thực sự cảm nhận được Phật ân hạo đãng của Sư phụ và sức mạnh vô biên của Đại Pháp.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2006/3/28/123858.html
Bản tiếng Anh: http://www.clearwisdom.net/emh/articles/2006/4/23/72317.html
Đăng ngày 28-01-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Hồi ức về Sư phụ tôn kính truyền Pháp tại thành phố Đại Liên 12 năm trước, Phần 2



Tiếp theo Phần 1
III. Sự quan tâm và chăm sóc của Sư phụ
Các học viên ở Đại Liên kể nhiều câu chuyện về những trải nghiệm của họ về sự quan tâm chăm sóc của Sư phụ.
1. Sư phụ biết rõ hoàn cảnh gia đình tôi
Một đệ tử nói: Lần thứ hai khi Sư phụ tới Đại Liên giảng Pháp, tôi đang là một điều phối viên. Một hôm, trong giờ giải lao, Sư phụ ân cần hỏi tôi: “Công việc thế nào? Cuộc sống có gì khó khăn không?” Tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi: “Làm sao mà Sư phụ lại biết được tình hình kinh tế của mình nhỉ?” Tôi đáp: “Dạ không có vấn đề gì ạ.” Sau đó, Sư phụ hỏi: “Có thật không? Mọi việc ổn chứ?” Tôi đáp: “Vâng, mọi việc vẫn ổn ạ.” Lúc đó, mắt tôi đã ứa lệ, điều Sư phụ nói khiến tôi xúc động sâu sắc. Ngài nói: “Có đủ tiền để mua thực phẩm và các nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống hàng ngày, vậy là ổn rồi.” Lúc đó, tôi hiểu là Sư phụ không chỉ quan tâm đến tôi, mà còn dạy tôi một nguyên lý tu luyện quan trọng. Sư phụ đã nói với tôi rằng: Là người tu luyện thì không nên sống với mục đích của một người thường. Một người tu luyện thông qua tu luyện đến cuối cùng sẽ trở thành một bậc giác ngộ, thoát ra khỏi thế giới người thường và quay trở về với bản ngã chân thật của mình. Chúng ta tới thế giới này chỉ vài ngày, do đó chúng ta không nên chấp trước vào bất cứ thứ gì nơi đây. “Có đủ tiền để mua thực phẩm và các nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống hàng ngày, vậy là ổn rồi.” Câu nói này của Sư phụ thường xuất hiện trong tâm trí tôi. Mặt khác, tôi không biểu hiện lùi bước khi đối mặt với khó khăn và thường giữ thái độ lạc quan trong cuộc sống. Tôi đơn giản là tiếp tục tu luyện tinh tấn và loại bỏ đi những chấp trước người thường của mình.
Sinh vô sở cầu
Tử bất tích lưu
Đãng tận vọng niệm
Phật bất nan tu
Tạm dịch:
Sống chẳng tham cầu
Chết không lưu luyến
Sạch bong vọng niệm
Tu Phật không khó
(Vô tồn, Hồng Ngâm)
Nguyên lý trọng yếu này luôn chỉ đạo tôi trên con đường tu luyện để trở thành Thần.
Hồi tưởng lại những ngày được ở cạnh Sư phụ, Ngài luôn mỉm cười. Vô luận làm gì, Sư phụ đều luôn nghĩ cho đệ tử trước. Những lời nói nhẹ nhàng và ân cần của Sư phụ thường khiến mọi người xúc động sâu sắc. Khi ở bên Sư phụ, tôi luôn cảm nhận được sự từ bi, tường hòa và ấm áp.
2. Sư phụ chăm sóc đệ tử bị say xe
Một học viên kể với chúng tôi một số sự kiện xảy ra trong khóa giảng Pháp vào tháng 06 năm 1994 tại Thành Đô:
Một hôm, Sư phụ tới thăm chúng tôi nơi chỉ có vài học viên đang sinh sống. Trong khi nói chuyện, Sư phụ đưa hai tay ra sau gáy, rồi tách hai tay ra hai bên. Sau đó, Ngài hỏi: “Bây giờ, chư vị nhìn thấy gì?” Chúng tôi trả lời rằng nhìn thấy một luồng sáng màu đỏ. Sư phụ nói: “Khi trở về hãy tu luyện cho thật tốt. Nguyên Anh của chư vị thật lớn làm sao, hãy tu luyện cho tinh tấn.” Một hôm, chúng tôi cùng với Sư phụ đi ra ngoài bằng xe hơi. Trời mưa tầm tã, con đường đầy bùn đất và chiếc xe rất bẩn. Khi xe dừng lại, tôi thấy Sư phụ là người đầu tiên bước ra khỏi xe. Ngài gạt nước bùn bẩn bám trên kính xe và trên người mình. Khi lớp học ở Thành Đô kết thúc, tất cả chúng tôi đều lưu luyến bịn rịn không muốn rời Sư phụ. Sư phụ mang tới cho chúng tôi ít nước để uống. Khi biết có một học viên bị say xe, Sư phụ đã xoay Pháp Luân phía trước xe và điều chỉnh thân thể cho anh ấy. Sư phụ luôn coi học viên như con mình và quan tâm chúng tôi tới từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Tất cả chúng tôi đều cảm động sâu sắc bởi từng sự việc nhỏ nhặt đó đều thể hiện được lòng từ bi, thương yêu của Sư phụ đối với chúng sinh.
3. Bệnh đau tim của tôi thôi không tái phát
Một học viên khác nhớ lại: “Khi Sư phụ mở khóa giảng đầu tiên ở Đại Liên, tôi kể với Sư phụ về tình trạng sức khỏe của mình. Tôi nói: “Toàn thân con cảm thấy không thoải mái, đau nhức khắp nơi. Con bị bệnh tim và nhiều bệnh khác nữa, thậm chí con đã suýt chết mấy lần.” Sư phụ không nói gì. Một lúc sau, Sư phụ đứng dậy và đi ra phía sau lưng tôi và làm động tác giống như tóm bắt lấy cái gì đó trong không khí phía bên trên đầu tôi và bước đi. Khi quay trở lại, Sư phụ hỏi tôi: “Bây giờ cảm thấy thế nào?” Tôi nói: “Con không cảm thấy gì cả, chỉ có chân là hơi nóng thôi.” Sau sự việc này, bệnh tim của tôi thôi không còn tái phát và tôi cũng không cần phải uống thuốc nữa.
Trong khóa giảng Pháp kế tiếp được tổ chức tại Thành Đô vào tháng 06, Sư phụ lại hỏi tôi: “Sao rồi? Mọi việc ổn chứ?” Tôi cảm kích nói: “Dạ thưa, con đã hồi phục hoàn toàn rồi ạ.” Sư phụ khuyến khích tôi: “Ngộ tính tốt đó.” Một buổi chiều ở lớp học Thành Đô, trong khi Sư phụ đang dạy các động tác ở phía trước, tôi bỗng nghe thấy một tiếng “bộp” và có ai đó vỗ vào cổ mình. Tôi quay lại, nhưng không thấy ai cả. Ngay lập tức tôi minh bạch ra rằng đó là Pháp thân của Sư phụ đang điều chỉnh thân thể cho tôi. Kể từ đó, tôi không bao giờ bị bệnh trở lại nữa. Tôi đã từng bị khó chịu khắp toàn thân, nhưng bây giờ tôi đã ở trạng thái vô bệnh. Tất cả là nhờ Sư phụ từ bi đã giúp tôi tịnh hóa thân thể. Tôi thực sự cảm thấy hạnh phúc trước Phật ân mà Sư phụ đã ban cấp cho tôi và đã cho tôi biết đến vẻ đẹp của Đại Pháp.
4. Sư phụ giúp tôi loại bỏ chấp trước vào việc không ăn thịt
Một học viên kể: “Từ khi còn nhỏ, tôi đã không ăn thịt. Điều đó như một thói quen và với quan niệm rằng việc ăn thịt là không đúng. Trong một thời gian dài, tôi không nhận ra đó là quan niệm của người thường. Một lần ở Bắc Kinh, Sư phụ mời chúng tôi ăn vịt quay Bắc Kinh. Tôi ngồi đó và nghĩ: “Như thế là không đúng.” Sư phụ biết trong tâm tôi đang nghĩ gì. Để loại bỏ nhân tâm của tôi, Sư phụ kẹp miếng thịt quay vào bánh đa, đưa nó cho tôi và nói: “Cái này là cho con.” Tôi không thể từ chối miếng thịt quay mà Sư phụ đưa cho. Vì vậy tôi đã ăn nó. Sau đó, tôi có thể ăn thịt nhưng không có chấp trước vào thịt. Thực ra là một người tu luyện, chúng ta không nên cố chấp hay chấp trước vào bất cứ thứ gì trong thế giới vật chất này. Khi đói, chúng ta có thể ăn bất cứ thứ gì mà chúng ta có. Trước đây, tôi nghĩ mình đã có chấp trước vào việc ăn thịt, do đó tôi không thích thịt và không bao giờ động vào nó. Nhưng thực ra, chính suy nghĩ đó của tôi cũng là một chấp trước. Không mang theo bất kỳ nhân tâm nào, tùy kỳ tự nhiên, đó mới đích thực là trạng thái của người tu luyện.
IV. Đứa trẻ may mắn
1. Sư phụ điều chỉnh thân thể cho một đứa trẻ ở nước Pháp
Tại khóa giảng Pháp thứ hai được tổ chức tại Đại Liên vào tháng 07 năm 1994, tôi đã được chứng kiến một việc thần kỳ. Sư phụ đã điều chỉnh thân thể cho một đứa trẻ ở tận nước Pháp. Đứa trẻ này đã mắc phải một căn bệnh kỳ lạ khiến cho không thể cử động chân tay hay nói năng gì được. Cháu bé phải nằm trên giường suốt ngày, sống trạng thái thực vật. Để cứu cháu, gia đình cháu đã tìm kiếm bác sỹ giỏi và các phương pháp điều trị ở khắp nơi, nhưng mọi cố gắng đều vô ích. Họ cũng tới giáo đường cầu nguyện giúp đỡ, nhưng vẫn vô vọng. Một người học khí công nói rằng, môn Pháp Luân Công hiện đang được truyền dạy ở Trung Quốc có thể chữa được bệnh cho cháu bé. Do đó, ông nội cháu và cha cháu đã bay hàng nghìn dặm tới Bắc Kinh và tìm hiểu về Pháp Luân Công ở mọi nơi mà họ tới. Có người nói Sư phụ Pháp Luân Công, Ngài Lý Hồng Chí hiện đang ở Đại Liên giảng Pháp. Do đó, họ đã tới Đại Liên và tìm gặp được Sư phụ.
Đầu tiên, họ thuật lại với Sư phụ về bệnh tình và các triệu chứng bệnh của đứa bé. Sư phụ hỏi họ có mang theo tấm hình nào của cháu bé không. Họ nói họ không mang theo. Sau đó, Sư phụ yêu cầu họ hãy tập trung nghĩ về đứa bé. Và trong khi họ đang nghĩ, ngay lập tức Sư phụ đã biết đứa bé đó trông như thế nào. Sau đó, Ngài đã vẽ lên không trung bên cạnh chiếc bàn của Ngài hình ảnh của một đứa trẻ, và bắt đầu làm các động tác như là đang kéo các sợi dây ra khỏi cơ thể của cháu bé. Cứ mỗi khi kéo một sợi dây, Sư phụ lại dùng tay đập nó ra thành từng mảnh. Một lúc sau, Sư phụ dừng lại và nói với hai người Pháp rằng: “Cháu bé giờ đã ổn rồi đó.” Bởi lúc đó chưa có điện thoại di động, nên họ không thể ngay lập tức liên lạc với gia đình ở bên Pháp được. Khi trở về khách sạn, họ đã liên lạc ngay với gia đình. Người nhà họ nói: “Sao giờ này mới gọi điện về thế? Khoảng 8 giờ sáng nay, có một chùm ánh sáng màu vàng từ ngoài bay vào và hạ xuống trên người cháu. Một lúc sau, cháu mở mắt ra và hỏi: ‘Mẹ, chuyện gì xảy ra thế?’ cháu đã có thể cử động và ra khỏi giường, bây giờ đã có thể đi được rồi.” Mẹ cháu bé rất hạnh phúc. Khi biết tin cháu bé đã hoàn toàn bình phục, cả hai người Pháp đó đã vô cùng mừng rỡ, họ không ngớt lời cảm tạ Sư phụ, và xin phép được chụp hình với Ngài. Khi chụp hình, hình ảnh vị Thần mà họ tín ngưỡng cũng xuất hiện trên bức tường trong tấm hình. Chuyện này đã khiến tôi nhận ra rằng sự từ bi của Sư phụ và huyền năng vĩ đại của Đại Pháp có thể làm được mọi việc.
2. Một đứa trẻ chậm phát triển đã trở thành bình thường
Một học viên kể với chúng tôi câu chuyện xảy ra trước khi Sư phụ rời đi sau khi khóa giảng Pháp thứ ba được tổ chức tại Đại Liên kết thúc. Hôm đó là ngày 30 tháng 12 năm 1994. Sư phụ đã giảng Pháp tại Sân vận động thành phố Đại Liên. 12.000 người đã tham dự, đó cũng là khóa giảng Pháp cuối cùng của Sư phụ ở Trung Quốc, và cũng là khóa giảng có đông người tham dự nhất. Ngày hôm sau, vài học viên trong đó có cả tôi, đã tới sân bay để tiễn chân Sư phụ. Khi Sư phụ chuẩn bị làm thủ tục để lên máy bay thì một học viên cùng với con của cô ấy vội vã chạy tới, họ muốn nhìn thấy Sư phụ. Khi phát hiện ra, Sư phụ đã tới gặp họ. Đứa trẻ trông như chậm phát triển, thần trí không tỉnh táo giống như tinh thần mang bệnh và phía trước trán cháu bé có một chấm đỏ. Sư phụ nhìn đứa trẻ, sau đó lấy tay sờ vào đầu cháu bé. Mắt đứa trẻ ngay lập tức trở lại trạng thái bình thường, miệng trở lại bình thường và chấm đỏ trên trán cũng biến mất. Cháu bé đã trở lại một đứa trẻ bình thường và nhìn còn thông minh nữa. Tất cả những người chứng kiến đều thừa nhận rằng đó quả thực là việc thần kỳ!
2004-9-26-shi-en-1--ss.jpg
2004-9-26-shi-en-2--ss.jpg
Sư phụ từ bi xoa tay [lên đầu], nét mặt của đứa trẻ ngốc nghếch đã đổi khác
V. Sức mạnh huyền diệu và siêu thường của Đại Pháp
Một học viên đã tập hợp lại những câu chuyện sau:
1. Trời chỉ mưa ở phía sau xe của chúng tôi
Sau khóa giảng Pháp đầu tiên ở Đại Liên, chúng tôi lái xe đưa Sư phụ tới Cẩm Châu vào ngày 04 tháng 04 năm 1994. Ngày hôm sau vào khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi tới Dinh Khẩu. Lúc đó, trời bắt đầu đổ mưa. Chúng tôi muốn tìm một nhà hàng để ăn sáng, nhưng trời mưa to quá. Tôi nghĩ khó mà ra ngoài được vào lúc này và tôi muốn đợi cho tới khi cơn mưa ngừng hẳn. Sư phụ biết tôi nghĩ gì và Ngài hỏi: “Có vấn đề gì thế?” Tôi miễn cưỡng đáp: “Thưa Sư phụ, thời tiết như thế này, liệu chúng ta có thể đi không?” Tuy nhiên, lớp học ở Cẩm Châu đã được lên kế hoạch khai giảng vào ngày hôm nay. Khóa giảng Pháp làm sao có thể bị cơn mưa lớn ngăn cản đây. Sư phụ suy nghĩ một lúc rồi nói: “Được rồi, bảo trời ngừng mưa lại là được.” Tôi ngạc nhiên, và nghĩ điều đó là không thể (Lúc đó, tôi thực sự không biết Sư phụ là ai, mà chỉ nghĩ Sư phụ là một khí công sư đơn thuần). Sư phụ không nói gì mà chỉ đứng ở trước cửa nhà hàng như thể đang nói chuyện theo một cách kỳ lạ, như thể Ngài đang nói chuyện với Trời vậy.
Khi ngồi ăn sáng với Sư phụ, tôi hỏi: Sư phụ, sao trời vẫn chưa ngừng mưa vậy?” Sư phụ đáp: “À, một lát nữa sẽ ngừng thôi.” Sau khi ăn sáng xong, mưa bắt đầu ngớt. Sau khi vào trong xe, tôi hỏi Sư phụ: “Sư phụ, sao mưa vẫn chưa tạnh?” Sư phụ đáp: “Sẽ tạnh sau khi chúng ta đi được 1 km.” Tôi thầm nghĩ: “Để xem xem trời sẽ tiếp tục mưa ra sao, nếu có thể tạnh mưa sau khi đi được 30 km thì tốt quá.” Nhưng thực tế đã khiến tôi ngạc nhiên. Quả thực, sau khi chúng tôi đi được khoảng 1km, thì bầu trời phía trước bắt đầu quang đãng. Tuy nhiên, phía sau xe chúng tôi thì bầu trời vẫn đầy mây mưa vần vũ và mưa vẫn như thác đổ. Tôi đã thực sự không nói lên lời. Một lúc sau, tôi nói với Sư phụ: “Sư phụ, Ngài là Thần thật sự. Ngài yêu cầu trời ngừng mưa, và quả thực trời đã ngừng mưa.” Sư phụ chỉ về phía trước và nói với tôi: “Có nhìn thấy các đám mây kia không? Đám mây trắng là con rồng ở biển Bột Hải, còn đám mây vàng là con rồng ở biển Hoàng Hải, cả hai con rồng đó đang làm nhiệm vụ, và ngày hôm nay chúng phải làm mưa ở đây. Nếu như không có mưa thì hai con rồng đó không thể giải thích được là tại sao chúng lại không làm mưa và hẳn là chúng đã làm điều gì đó không đúng. Vậy chúng ta phải xử lý việc này thế nào? Phương án giải quyết là, để chúng làm mưa phía sau xe của chúng ta.” Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi được chứng kiến một việc kỳ lạ như vậy, và quả thực là nếu như không được tận mắt chứng kiến, thì tôi cũng không thể nào tin nổi đó là sự thực.
2. Giữa những con sóng bỗng xuất hiện một con đường thẳng
Trong khóa giảng Pháp thứ hai được tổ chức tại Cẩm Châu, vài học viên và tôi được theo Sư phụ đến thăm một ngôi đền trên núi Bút Giá. Núi Bút Giá nằm giữa biển khơi, khi thủy triều không quá cao, thì có thể chèo ghe ra đó được. Nhưng khi thủy triều lên cao, thì chỉ có thể đi phà ra đó. Khi chúng tôi tới, thủy triều đang rất cao, do đó chúng tôi chỉ có thể đi ra được đó bằng thuyền. Chiếc thuyền của chúng tôi thì nhỏ mà sóng thì lớn. Tôi thầm nghĩ: “Mình biết bơi, do đó nếu có chuyện gì xấu xảy ra, mình có thể cứu được những người khác.” Do đó, tôi đã ngồi hồi hộp và lo lắng. Sư phụ biết tôi đang nghĩ gì và mỉm cười, như thể Ngài đọc được suy nghĩ của tôi vậy. Khi con thuyền bắt đầu khởi hành, Sư phụ chỉ về phía trước và nói: “Nhìn phía trước kìa.” Tôi rất ngạc nhiên với những gì mình thấy. Ngay ở phía trước mũi thuyền, một con đường trên mặt biển xuất hiện. Ở hai bên mạn thuyền, sóng biển vẫn cao hơn cả chiếc thuyền, tuy nhiên ở phía đằng trước, mặt biển trông như một con đường thẳng, tĩnh lặng như mặt hồ không chút gió. Thuyền của chúng tôi đã tới được núi Bút Giá một cách an toàn và nhanh chóng.
Ngày 27 tháng 03 năm 2006.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2006/3/29/123874.html
Bản tiếng Anh: http://www.clearwisdom.net/emh/articles/2006/4/25/72410.html
Đăng ngày 30-01-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Hồi ức về Sư phụ tôn kính truyền Pháp tại thành phố Đại Liên năm 1994, Phần 3



[MINH HUỆ 31-03-2006] Tiếp theo phần 1phần 2
VI. Sư phụ giúp các đệ tử thay đổi quan niệm người thường của mình
Những câu chuyện sau đây là những hồi ức của các học viên về chuyến thăm di tích lịch sử ở Lữ Thuận cùng với Sư phụ vào năm 1994.
1. Sư phụ biết mọi điều
Ngày 07 tháng 07 năm 1994, Sư phụ cùng với một nhóm học viên đi thăm Hồng Lư, một di tích thuộc triều đại nhà Đường ở Lữ Thuận. Một học viên lớn tuổi tình nguyện làm hướng dẫn viên du lịch, vì đây là lần đầu tiên Sư phụ tới thăm vùng này.
Trong suốt chuyến đi, người học viên lớn tuổi nói với Sư phụ về hai cái giếng cổ, nhưng một cái không biết nằm ở đâu. Người ta nói rằng cái giếng thứ hai nằm dưới tấm bia đá. Sư phụ bước tới gần tấm bia đá, dừng lại và chỉ xuống dưới.
Ngài nói rằng cái giếng thứ hai không nằm dưới tấm bia đá, mà nằm ở phía bên dưới nơi Ngài đang chỉ. Chúng tôi rất ngạc nhiên. Làm thế nào mà Sư phụ biết được những chuyện thuộc về triều đại nhà Đường cách đây 1.300 năm?
Sau này, tôi hỏi một vị học giả lớn tuổi ở Bảo tàng Lịch sử Lữ Thuận. Ông xác nhận rằng vị trí của cái giếng đó hoàn toàn chính xác với nơi mà Sưphụ đã chỉ.
Chúng tôi cũng được cùng với Sư phụ đi thăm Pháo Đài Bắc ở phía Đông núi Kê Quan, một địa danh lịch sử trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật. Một học viên giới thiệu với Sư phụ về địa danh đó và chỉ nơi một viên tướng nổi tiếng hy sinh.
Sư phụ nói rằng thực ra viên tướng đó đã chết ở chỗ những tàn tích nằm gần đường hầm. Ngài mô tả ngắn gọn về đặc điểm hình thể của viên tướng nổi tiếng đó, nói rằng đó là một người không cao, và nhìn rất nhỏ bé. Chúng tôi rất ngạc nhiên rằng Sư phụ biết chi tiết về những việc đã xảy ra hàng trăm năm trước đây.
Sau này, tôi đã tới thăm các nhà sử học và tìm hiểu về những tư liệu lịch sử được ghi chép lại và xác nhận rằng mọi điều mà Sư phụ nói là hoàn toàn chính xác. Cuối cùng, chúng tôi nhận ra rằng Sư phụ đã sử dụng chuyến đi thăm các địa danh lịch sử đó để giảng một Pháp lý: “Phật Pháp cho phép con người thấu triệt thế giới vô lượng, vô biên.” ( Chuyển Pháp Luân ) Mọi điều Sư phụ làm đều giúp con người giác ngộ, chỉ đạo đệ tử đắc Pháp đề cao trong tu luyện, và cứu độ chúng sinh.
2. Sư phụ giúp tôi loại bỏ tư tưởng vô thần luận
Tôi đã bị ảnh hưởng bởi thuyết vô thần và chủ nghĩa vật chất, hoàn toàn không tin tưởng vào những gì siêu nhiên. Đó chính là chướng ngại nghiêm trọng trên con đường tu luyện của tôi. Để giúp tôi loại bỏ trạng thái tâm lý này, Sư phụ đã cho tôi thấy những cảnh tượng trong các không gian khác nhau.
Tôi được đi cùng với Sư phụ sau khóa giảng Pháp cuối cùng ở thành phố Đại Liên. Khi đang đi, Sư phụ nói với tôi rằng Thần Phật mỗi thời mỗi khắc đều luôn dõi theo con người, nhưng con người không thể nhìn thấy các vị Phật được.
Khi chúng tôi lái xe ngang qua thành phố Ngõa Phòng Điếm, Sư phụ chỉ vào một ngọn núi và nói tôi nhìn. Tôi nhìn thấy những người cao khoảng một mét và mặc trang phục cổ xưa. Tôi hỏi Sư phụ họ là ai. Ngài nói rằng đó là những vị Thần thổ địa địa phương. Tôi hỏi họ làm gì. Sư phụ nói họ cai quản các khu vực khác nhau. Ngài nói rằng các vị Thần này cũng giống như các tổ trưởng khu dân cư ở thế gian vậy.
Tôi học được rằng không gian vật chất của chúng ta không phải là không gian duy nhất trong vũ trụ bao la rộng lớn này. Còn có rất nhiều những không gian và sự sống khác mà chúng ta không thể nhìn thấy. Có rất nhiều những sinh mệnh khác cao cấp hơn loài người như Phật, Đạo, Thần. Những gì Sư phụ cho tôi thấy đã loại bỏ tư tưởng vô thần luận và làm thay đổi thế giới quan của tôi.
3. Sư phụ điểm hóa cho các học viên về những chiều không gian khác
Sư phụ đã đến Đại Liên trong khóa giảng Pháp đầu tiên của Ngài tại đây. Trong suốt chuyến đi, vài học viên và tôi xem băng video hướng dẫn luyện công của Sư phụ. Một số học viên nhìn thấy những cánh hoa sen trong video di chuyển một cách nhẹ nhàng đẹp mắt, nhưng tôi thì không nhìn thấy gì cả.
Trong khi chúng tôi đang bàn luận về những cánh hoa sen thì Sư phụ bước vào phòng. Tôi hỏi Sư phụ tại sao tôi lại không nhìn thấy cánh hoa sen nào cả. Sư phụ nói tôi đừng lo lắng và rằng Ngài sẽ cho tôi thấy.
Sư phụ đặt một quả cà chua lên bàn và lấy tay mình che quả cà chua một lát, sau đó Ngài đặt quả cà chua lên nắp lon soda. Một tiểu anh hài xuất hiện trên quả cà chua, nhảy nhót lên xuống. Một cột sáng màu xanh kéo thẳng từ đỉnh đầu của tiểu anh hài lên trời. Tiểu anh hài đó tồn tại trong một không gian khác, nhưng Sư phụ đã cho tiểu anh hài xuất hiện trước mắt chúng tôi.
Ngày 07 tháng 07 năm 1994, tôi được theo Sư phụ đi thăm Lữ Thuận. Từ pháo đài Điện Nham ở phía đông của bến cảng Lữ Thuận, chúng tôi nhìn về phía biển. Là học viên mới, tôi rất phấn khích và cảm thấy tự hào rằng mình được là đệ tử của Sư phụ.
Tôi không thể kìm nén được những cảm xúc mãnh liệt của mình và hét to “Pháp Luân Công” về phía biển. Giọng của tôi dường như vang hơn, xa hơn lan tỏa trên mặt biển rộng lớn. Trước sự kinh ngạc đến tột độ của tôi, một cột ánh sáng đã từ mặt biển vọt thẳng lên trời. Tôi hỏi Sư phụ điều gì xảy ra.
Ngài nói rằng cũng giống như Thiên Đàn ở Bắc Kinh, nơi này cũng là điểm kết nối với các không gian khác. Trong khi nơi này kết nối với bốn không gian khác, thì Thiên Đàn có thể kết nối tới bảy không gian khác nhau. Rất lâu sau đó tôi mới nhận ra rằng Sư phụ đã tận dụng mọi cơ hội để chỉ cho học viên cách làm thế nào để đột phá được mọi quan niệm người thường về khái niệm không gian.
Khi chúng tôi đang ở trên núi Bạch Ngọc, tôi nhìn thấy Sư phụ làm các động tác tay thật đặc biệt. Ngài nhẹ nhàng xoay cánh tay phải với các ngón tay trỏ thẳng vào lòng bàn tay trái của mình. Sư phụ nói rằng nơi này rất bẩn. Tôi không nhận ra rằng là Sư phụ đang nói về một chiều không gian khác, và tôi hồn nhiên đáp: “Nơi này không phải là một chiến trường cổ xưa. Đây phải là nơi cảnh quan sạch đẹp, sơn thủy hữu tình chứ ạ.“
Sư phụ nói với chúng tôi rằng có nhiều linh hồn của những người đã chết ở nơi này, và hầu hết họ là người Nhật. Sư phụ nói rằng họ quỳ gối cầu xin Ngài cứu độ. Tôi nhớ rằng Lữ Thuận là nơi đã xảy ra rất nhiều trận chiến, bao gồm cả trong chiến tranh Thế giới lần thứ II. Có nhiều linh hồn của những người đã chết ở Lữ Thuận, mặc dù người bình thường không thể nhìn thấy họ.
Núi Lão Thiết tại mỏm phía Nam của Lữ Thuận là điểm nối của biển Hoàng Hải và Bột Hải. Sư phụ đứng trên vách núi hướng mặt về phía biển Hoàng Hải và đưa lòng bàn tay phải hướng lên trên. Ngài dùng tay trái để chỉ dẫn một điều gì đó.
Một quả cầu sáng chói dần dần xuất hiện trong lòng bàn tay phải của Sư phụ. Một lúc sau, Sư phụ từ từ đẩy quả cầu ánh sáng về phía mặt biển. Sư phụ nói rằng Ngài đã không biết là có một vị trí tốt như thế này ở Lữ Thuận. Sau đó, tôi nhìn thấy một sinh vật khổng lồ với đôi cánh lớn đang bay lượn phía xung quanh trên đầu ngọn hải đăng.
Tôi chưa từng thấy điều gì tương tự như vậy trước đây. Nhưng nó không đáng sợ như người ta nghĩ, mà thay vào đó, nó làm cho tôi có cảm giác bình an. Tôi hỏi Sư phụ đó là gì vậy. Ngài nói đó là vị Thần Hộ Pháp. Tôi kinh ngạc hỏi tiếp: ‘Thế còn vị cao lớn đang đứng trên bầu trời kia là ai?” Sư phụ nói đó là Pháp Thân của Ngài. Một học viên đã chụp ảnh về cảnh tượng kỳ diệu này.
Sư phụ cũng tới thăm các địa danh lịch sử nơi vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Đường dẫn quân trở lại đất liền. Một con rồng vàng từ biển Hoàng Hải và một con rồng xám từ biển Bột Hải đã nhảy lên vì vui mừng và phun ra những vòng nước đẹp mắt. Sư phụ nấn ná tại nơi này một hồi lâu. Tôi cảm thấy như mình được hòa tan vào sự từ bi của Phật Pháp khi được ở bên cạnh Sư phụ.
Mặc dù những điều tôi nói trên đây không thể kiểm chứng được bằng khoa học thực nghiệm, nhưng tất cả những điều này đã thực sự xảy ra. Là những học viên Pháp Luân Đại Pháp, chúng ta cần phải tiếp tục đề cao cảnh giới và đột phá các không gian. Chúng ta phải thay đổi từ tận gốc những suy nghĩ và quan niệm người thường của mình.
VII. Sư phụ hướng dẫn các đệ tử đi trên con đường ngay chính
1. Sư phụ nói với chúng tôi về nguyên lý của tu luyện
Trong suốt thời gian Sư phụ giảng Pháp ở Lữ Thuận, có một học viên mà đã tìm kiếm Pháp Luân Công từ năm 1992 rất cao hứng và hỏi Sư phụ rất nhiều câu hỏi, như về mối quan hệ giữa đức và công. Sư phụ giảng cho anh ta rằng tâm tính người ta cũng giống như cái bồ chứa thóc lớn mà có thể thấy ở vùng nông thôn phía bắc của Trung Quốc. Khi tâm tính được đề cao lên thì năng lượng được tồn trữ cũng theo đó mà nhiều lên, cũng giống như cái bồ chứa càng to thì chứa được càng nhiều thóc vậy.
Tháng 12 năm 1994, một học viên mới đưa cho một học viên khác một cuốn sách của một môn khí công khác. Sau khi đọc cuốn sách đó xong, miệng và mắt của người học viên đó bị biến dạng. Sự việc này được báo lên cho Sư phụ. Hình dạng của người học viên đó đã trở lại bình thường sau khi anh ấy nhận được ra lỗi của mình.
Lòng từ bi của Sư phụ là vô biên. Sư phụ còn chăm sóc chúng ta chừng nào mà chúng ta biết hối cải về những lỗi lầm đã phạm phải. Điều này đã để lại cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc. Từ đó chúng tôi luôn ghi nhớ không bao giờ lan truyền hay đọc bất cứ thứ gì từ các tôn giáo hay các môn khí công khác.
2. Sư phụ viết kinh văn để uốn nắn các đệ tử
Ngày 30 tháng 3 năm 1994, là ngày thứ tư của khóa giảng Pháp đầu tiên của Sư phụ tại Đại Liên. Chúng tôi được cùng với Sư phụ đi thăm công viên Tân Hợi. Vài học viên đã nhìn thấy những con rồng và những nàng tiên bay lượn trên mặt biển.
Một học viên có một vài công năng và anh ấy nghĩ anh ấy là người đã mang tới những con rồng và các nàng tiên. Một học viên khác hỏi: “Tôi hay là Sư phụ đã đưa những con rồng và các nàng tiên tới đây?” Sư phụ nói các học viên không nên truy cầu công năng, mà thay vào đó là phải học Pháp và tu luyện bản thân cho thật tốt. Sư phụ đã viết mấy chữ lên bãi cát trên bờ biển:
“Công năng bản tiểu thuật,
Đại Pháp thị căn bản.”
Tạm dịch:
“Công năng là thuật nhỏ,
Đại Pháp là căn bản.”
Câu này sau đã được in trong bài thơ “ Cầu chính Pháp môn ” trong Hồng Ngâm.
Năm 1996, các học viên đã mời một học viên lâu năm ở thành phố khác tới Đại Liên để trợ giúp hướng dẫn luyện các bài công pháp. Người học viên này đã thay đổi các động tác luyện công và hướng dẫn mọi người tập khác với Sư phụ. Sư phụ biết được chuyện này và Ngài đã viết một bài kinh văn gửi cho Hiệp hội Pháp Luân Đại Pháp tại Bắc Kinh. Bài này sau đó đã được in trong cuốn Tinh Tấn Yếu Chỉ với tiêu đề “Kim cương”
Mặc dù đây chỉ là những vấn đề cá biệt, nhưng nó khá phổ biến. Sư phụ đã điều chỉnh mọi vấn đề thế này ngay lập tức.
VIII. Sư phụ khuyến khích các đệ tử tu luyện tinh tấn
Khóa giảng Pháp thứ hai của Sư phụ được tổ chức tại Sân vận động Đầu máy xe lửa thành phố Đại Liên từ ngày 01 đến ngày 08 tháng 07 năm 1994. Nhiều học viên đã nhìn thấy Sư phụ phát ra luồng năng lượng mạnh mẽ đầy màu sắc vào hôm khai giảng khóa học. Những bài giảng đó đã được ghi âm lại để cho các học viên học.
Buổi chiều ngày 04 tháng 07 năm 1994, Sư phụ trả lời các câu hỏi của học viên. Một học viên hỏi: “Thưa Sư phụ, con muốn hỏi về tương lai của Lữ Thuận.”
Sư phụ nói với người học viên rằng những người tốt sẽ không bị ảnh hưởng bởi những thiên tai, thảm họa và những việc Ngài làm là để cứu độ con người, dạy họ đồng hóa với đặc tính Chân – Thiện – Nhẫn để trở về với bản nguyên sinh mệnh của mình và tránh được mọi nguy hiểm. Sư phụ so sánh sự xuống cấp đạo đức của nhân loại giống như quả táo bị hỏng. Nó phải được làm tươi mới trước khi được giữ lại.
Vài học viên khác hỏi các câu hỏi về các mối quan hệ quốc tế. Sư phụ nói chúng ta tuyệt đối không tham gia vào chính trị, và là học viên, chúng ta nên biết tận dụng thời gian để tu luyện bản thân cho thật tốt.
Một học viên khác hỏi làm thế nào để lựa chọn được vị trí tốt để thiết lập điểm luyện công. Sư phụ nói bất cứ chúng ta chọn chỗ nào để luyện công cũng đều tốt cả.
Sư phụ nói với các học viên ở Lữ Thuận vào ngày 31 tháng 12 năm 1994 rằng chúng ta nên đặt việc học Pháp là ưu tiên hàng đầu, và chúng ta nên ghi nhớ Pháp. Ngài nói học Pháp theo nhóm là hình thức tốt và chúng ta phải biết tranh thủ thời gian để học Pháp và tu luyện bản thân một cách vững chắc.
*****
Những lời giảng của Sư phụ 12 năm trước [Ghi chú của Ban biên tập: Bài này được viết vào năm 2006] đã làm cho chúng tôi được chìm đắm trong sự từ bi của Phật Pháp, thanh lọc cả tâm và thân chúng tôi. Hôm nay, chúng ta thấy được rõ sứ mệnh thiêng liêng trợ Sư chính Pháp. Làm tốt ba việc, bằng chính niệm mạnh mẽ đó là cách tốt nhất để báo đáp ơn cứu độ của Sư phụ, như Sư phụ đã giảng:
“Hỡi các đệ tử Đại Pháp, chư vị là ánh vàng kim nơi thế gian dơ bẩn, là hy vọng của con người thế gian, là đồ đệ của Pháp đang trợ giúp Sư phụ, là các Pháp Vương của tương lai. Hãy tinh tấn, hỡi các Giác Giả đang ở thế gian; hết thảy mọi thứ hiện nay đều sẽ là huy hoàng của tương lai!” ( Lời chúc Pháp hội Atlanta 2005 )

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2006/3/31/123875.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/12/3/147149.html
Đăng ngày 30-01-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thứ Ba, ngày 27 tháng 1 năm 2015

Trở thành một người tốt hơn



Bài viết của học viên Thanh Tâm từ Trung Quốc
[MINH HUỆ 22-12-2014] Tháng 05 năm 1999, tôi thấy một nhóm người đang ngồi đả tọa trong khu vườn tại một quảng trường. Vì thấy tò mò nên tôi đã qua đó xem. Một người đàn ông tiến về phía tôi và nói: “Chúng tôi đang tu luyện Pháp Luân Công. Môn tập này rất tốt. Không chỉ cải thiện sức khỏe mà còn nâng cao chuẩn mực đạo đức cho mọi người. Thông qua việc tu tập, bạn có thể trở thành một người tốt hơn.”
Tôi rất vui khi nghe được điều này và nhận ra rằng tôi cũng muốn làm một người tốt. Tôi lập tức bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công. Kể từ đó, tôi đã luyện các bài công pháp cùng với mọi người mỗi sáng và học Pháp vào những buổi tối.
Không lâu sau khi bắt đầu tu luyện, mụn trên mặt của tôi biến mất. Một ngày, đồng nghiệp của tôi, cô Lưu, hỏi tôi: “Ồ, mụn trên mặt chị đã biến mất. Da trở chị trở nên trắng hồng. Chị có phương thuốc bí mật nào à? Tôi nói với cô: “Tôi đang tu luyện Pháp Luân Công. Tôi đã tập được gần một tháng, không chỉ mụn trên mặt biến mất, mà thậm chí những mụn cóc mà tôi bị nhiều năm qua cũng biến mất. Ngoài ra, các đốm nâu trên cơ thể tôi cũng biến mất.” Cô rất vui khi biết chuyện nên đã khích lệ tôi tiếp tục tu luyện.
Tu luyện trong xã hội người thường
Sư phụ dạy chúng ta chiểu theo các nguyên lý Chân-Thiện-Nhẫn để trở thành những người tốt hơn. Vì vậy, chúng ta phải cố gắng nâng cao đạo đức của mình.
Tôi làm việc trong bộ phận dọn phòng của một khách sạn. Trước khi bắt đầu tu luyện, tôi lấy nhiều bàn chải đánh răng về nhà. Các đồng nghiệp của tôi cũng làm vậy. Họ nói rằng nếu chúng tôi không lấy những thứ này thì thật lãng phí. Tuy nhiên, sau khi học Đại Pháp, tôi đã trả lại những thứ đó cho khách sạn.
Mỗi ngày, chúng tôi đều có rất nhiều khách. Một số khách sẽ quên đồng hồ, ví, điện thoại di động, dây chuyền, v.v.. trong phòng khách sạn. Tôi luôn báo cho nhân viên khách sạn khác khi tôi phát hiện ra chúng, và khi khách vẫn còn ở trong khách sạn, tôi tự trả lại những món đồ đó cho họ. Còn nếu khách đã đi khỏi khách sạn rồi, thì tôi sẽ đưa những món đồ đó cho người quản lý.
Một tháng trước khi tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công vào tháng 04 năm 1999, tôi quét dọn chiếc tủ trong phòng vệ sinh. Tôi phát hiện ra một chiếc nhẫn vàng, một chiếc nhẫn bạc và một bông tai bằng vàng. Tôi lặng lẽ đem chúng về nhà và đưa lại cho cha mẹ tôi. Sau khi học Pháp Luân Công, tôi hiểu nguyên lý “mất và được”. Nên sau đó, tôi đã trả lại đồ trang sức cho quản lý của mình.
Tôi cũng đi làm sớm và về muộn. Tôi rất có trách nhiệm với công việc của mình và vào cuối năm 1999, tôi được bầu chọn là “Nhân viên xuất sắc.”
Liên tục thẳng tiến trên bước đường tu luyện
Ngày 20 tháng 07 năm 1999, chính quyền Giang Trạch Dân bắt đầu đàn áp Pháp Luân Công trên toàn quốc. Quản lý của tôi nói với tôi rằng: “Pháp Luân Công giờ đã bị cấm, cô nên viết cam kết từ bỏ Pháp Luân Công.” Tôi đã khóc và nhắc lại cho anh ấy về việc tôi đã cố gắng hoàn thiện bản thân để trở thành một người tốt như thế nào, tôi đã tìm mọi cách để trả lại những món đồ tôi lấy từ khách sạn cũng như những đồ trang sức mà tôi nhặt được ra sao. Tôi thấy mắt của người quản lý đẫm lệ. Anh không nói một lời nào và bỏ đi.
Kể từ đó, sau khi hoàn thành công việc của mình tại nơi làm việc, tôi công khai học Pháp. Đôi lúc, quản lý thấy tôi đang đọc sách, nhưng anh không nói gì mà lặng lẽ rời đi. Ngay cả vào những ngày căng thẳng nhất khi cuộc đàn áp đang rất khốc liệt, môi trường tu luyện của tôi vẫn tương đối thoải mái. Khi cảnh sát tới khách sạn để tìm tôi, các đồng nghiệp của tôi tại quầy lễ tân nói với họ rằng tôi đã trốn rồi. Họ đã lặng lẽ che chở cho tôi. Tuy nhiên, sau khi đến Bắc Kinh để thỉnh nguyện đòi quyền tự do tu luyện Pháp Luân Công vào tháng 03 năm 2000, tôi đã bị sa thải.
Một đồng tu đã giúp tôi xin một công việc tại một nhà máy vào mùa hè năm 2000. Nhưng, khi một học viên khác bị bắt, cô đã khai ra tên của tôi. Cảnh sát tới nhà máy và bắt tôi đi thẩm vấn. Sau đó, họ lục soát nhà tôi. Tôi bị giam giữ 10 ngày mặc dù họ không tìm ra được bằng chứng nào cả.
Anh trai tôi đón tôi tại trại tạm giam và đưa tôi đến nhà máy để nhận lương, nhưng giám đốc của nhà máy không muốn tôi đi. Ông nói với anh trai tôi: “Em gái của anh thực sự làm việc rất chăm chỉ. Cô ấy đã làm công việc còn tốt hơn cả những người trẻ tuổi kia. Hãy để cô ấy tiếp tục làm việc ở đây.“
Tôi làm việc ở đó hơn một tháng. Tuy nhiên, ông chủ nhà máy đã phải chịu áp lực, và sau đó cảnh sát nói rằng ông buộc phải sa thải tôi. Giám đốc gọi tôi tới phòng làm việc của ông và nói rằng mặc dù ông muốn giữ tôi lại, nhưng ông không có lựa chọn nào khác ngoài việc sa thải tôi. Tôi cảm ơn ông vì đã dành thời gian cho mình, nhắc nhở ông về sự tốt lành của Pháp Luân Công và rời đi.
Kiên định
Trong khi tôi đang làm việc tại trung tâm mua bán đĩa DVD vào năm 2005, một cảnh sát tới tìm tôi và gây áp lực ép tôi viết cam kết rằng tôi sẽ không đến Bắc Kinh để thỉnh nguyện cho Pháp Luân Công nữa. Đầu tiên, cô ta đến gặp quản lý và giám đốc của tôi. Vì tôi luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác, nên các đồng nghiệp thích làm việc cùng tôi, cấp trên cũng quý mến tôi.
Khi cảnh sát tìm tôi và muốn tôi ký vào bản cam kết. Tôi nói với cô ta: “Tôi không ký. Tôi không phạm pháp. Theo luật pháp, chúng tôi có quyền tự do tín ngưỡng. Tại sao tôi lại phải ký thứ này?” Cô ta thừa nhận rằng tất cả cấp trên của tôi đều nói tôi là một người tốt, vì vậy tôi đã đáp lại: “Sư phụ của tôi dạy chúng tôi làm những người tốt, vì vậy dù ở đâu chúng tôi cũng là người tốt.” Cô ta bỏ đi. Cuối năm, tôi được bầu chọn là “Nhân viên xuất sắc”, được trao giấy chứng nhận và giải thưởng.
Một lần vào năm 2010, tôi gặp hàng xóm của mình sau khi làm việc. Cô hỏi tôi: “Cô vẫn sống cùng anh ta à? Tôi nghĩ cô đã bỏ đi từ lâu rồi.” Tôi hiểu ý cô ấy. Chồng tôi đã mất một vài công việc vì cuộc đàn áp và trạng thái tinh thần của anh ấy cũng không được tốt. Nhiều năm qua, tôi đã tự lo liệu về mặt tài chính cho gia đình. Mẹ chồng của tôi giúp đỡ tôi một chút. Tuy nhiên, gia đình ba người chúng tôi cũng sống cuộc sống không dễ dàng gì.
Tôi nói với cô ấy: “Anh ấy là một người rất tốt, anh đối xử với gia đình mình cũng tốt. Cuộc đàn áp đã khiến anh chịu quá nhiều căng thẳng, vì vậy mà anh bị sa thải khỏi vị trí công chức của mình. Anh đã liên tục mất ba công việc vì cuộc đàn áp. Tôi không thể bỏ anh ấy chỉ vì bây giờ anh ấy không thể làm việc.”
“Sư phụ chúng tôi dạy chúng tôi đối xử tốt với tất cả mọi người, không kể là người thân của mình. Pháp Luân Công là một pháp môn tu luyện lên cao tầng của Phật gia. Nó dạy mọi người làm người tốt, giúp mọi người cải thiện cả sức khỏe lẫn tinh thần. Nó không giống những gì trên TV nói.”
Cô ấy bắt đầu khóc và nói rằng tôi là một người tốt. Kể từ đó, cô không còn phân biệt đối xử với tôi như trước đây nữa. Giờ đây, cô quan tâm đến tôi và không còn thù địch Pháp Luân Công nữa.
Pháp Luân Công là Đại Pháp đức cao chân chính! Tôi viết bài này với hy vọng những người bị những lời dối trá của đảng cộng sản lừa dối có thể minh bạch chân tướng, để họ có một tương lai tốt đẹp.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/12/22/301779.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/1/4/147827.html
Đăng ngày 27-01-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Bài học về giao dịch đầu cơ



Bài viết của Tự Tâm, một học viên Pháp Luân Đại Pháp tại Trung Quốc
[MINH HUỆ 26-12-2014] Sư phụ đã giảng rằng là học viên, chúng ta không nên chơi cổ phiếu và nguyên lý tương tự cũng áp dụng cho các công cụ tài chính đầu cơ khác. Tuy nhiên, tôi đã không chiểu theo lời dạy của Sư phụ và đã nhận một bài học đắt giá.
Tôi từng nghe nói về một sàn giao dịch vàng quốc tế trong đầu tháng 12. Sàn giao dịch này có tỷ lệ đầu tư là 100:1, nghĩa là với mỗi một đô la đưa lên thì tôi có thể được hoặc mất 100 đô la.
Vì từng học tài chính ở trường nên tôi có một vài hiểu biết về cách hoạt động của loại giao dịch thương mại này. Tôi biết rằng đây là một công cụ tài chính được thường xuyên sử dụng và có thể thu được lợi nhuận cao trong thời gian ngắn.
Tôi biết Sư phụ đã dặn chúng ta không được chơi cổ phiếu và tôi cảm thấy loại đầu tư này cũng tương tự như việc đầu cơ cổ phiếu. Do vậy tôi đã không muốn tham gia.
Tuy nhiên, tôi đã không tu khẩu và nói với vợ mình – một người thường – về sàn giao dịch này.
Điều tồi tệ hơn là tâm hiển thị của tôi đã khởi lên sau khi đọc bài giảng mới đây của Sư phụ: “Nếu chư vị thật sự muốn dùng tiền, chư vị thật sự muốn làm quan, chư vị thật sự quyết định như thế, chư vị thật sự là tinh anh trong xã hội nhân loại, chư vị thật sự làm được như thế, nhưng mà chư vị không muốn [những thứ đó].” (Giảng Pháp tại Pháp hội San Francisco 2014)
Sau khi đọc xong, tôi đã khoe với vợ về khả năng của bản thân và về việc tôi có thể kiếm được nhiều tiền trong thế giới con người ra sao nếu muốn. Trước đây, tôi cũng đã thực hiện được một vài dự đoán chính xác về sự tăng trưởng của Bitcoin và đồng Đô la Mỹ. Tất cả những điều này đã khiến vợ tôi tin rằng tôi có thể kiếm được nhiều tiền nếu đầu tư, điều này đã tạo ra rất nhiều phiền toái cho tôi.
Vợ tôi bắt đầu tin rằng tôi đã không cố gắng kiếm tiền dù có khả năng và bắt đầu quấy rầy tôi về việc đầu tư trên sàn giao dịch vàng đó.
Tôi đã không thể trụ vững trước sự thúc ép này nữa và cuối cùng đã mở một tài khoản ảo, hợp lý hóa quyết định của mình với hai lý do. Thứ nhất, vàng không phải là cổ phiếu và Sư phụ chỉ nói rằng không được đầu cơ cổ phiếu. Thứ hai, tôi sẽ đưa tất cả những gì kiếm được cho gia đình và không lấy thứ gì cho mình.
Sau khi luyện tập thành thạo trên lý thuyết, tôi đã mở một tài khoản thật và bắt đầu trò chơi may rủi này.
Ngạc nhiên thay, giá thị trường Mỹ đột nhiên chuyển biến lớn. Tôi đã bị thiệt hại trầm trọng trong ngày giao dịch đầu tiên.
Việc này giống như tôi bị dội một gáo nước lạnh. Tôi đã bắt đầu hướng nội và tìm thấy nhiều chấp trước:
Tôi có tâm hiển thị và muốn chứng minh cho mọi người thấy rằng tôi có kỹ năng đầu tư. Tôi cũng có chấp trước đối với lợi ích vật chất và trở nên bị ám ảnh với trò giao dịch này. Cuối cùng là sự truy cầu an dật – tôi đã muốn kiếm tiền để sống một cuộc sống xa hoa hơn.
Nhưng quan trọng nhất là tôi đã trực tiếp không làm theo lời giảng của Sư phụ; thay vào đó, tôi chỉ đọc những gì mình muốn đọc. Trong nhận thức muộn màng, tôi thấy rằng tâm mình đã lên xuống khi dõi theo sự biến chuyển của giá vàng. Chẳng phải chơi cổ phiếu cũng gây ra điều tương tự cho người ta sao?
Tôi đã làm điều mà một học viên không nên làm. Tôi đã hoàn toàn thất bại trong vấn đề này.
Tôi cũng đã lãng phí rất nhiều thời gian trong những ngày đó. Dù tự nhủ rằng mình không nên chấp trước vào kết quả và chỉ nên dành nửa giờ giao dịch mỗi ngày nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Tôi đã ngồi trước máy tính một thời gian dài và thức đến tận ba giờ sáng. Nó đã gây ảnh hưởng tới ba việc mà tôi cần làm và thậm chí là tới cuộc sống bình thường của tôi.
May mắn thay Sư phụ đang chăm sóc tôi. Một sự đảo ngược thị trường mạnh mẽ đã thức tỉnh tôi. Nếu không, khi tiếp tục kiếm tiền, tôi sẽ rớt đến đáy trong sự tu luyện.
Tôi đã mất rất nhiều tiền. Nhưng chẳng phải khổ nạn này là do tôi tự chiêu mời đến sao?
Từ sự kiện này, tôi đã học được rất nhiều. Tôi nên luôn đặt Pháp lên hàng đầu và không được sử dụng bất cứ lý do gì để che đậy cho chấp trước của mình. Tôi nên cẩn thận, không để các chấp trước của mình đem lại thêm khổ nạn; thậm chí nếu tôi có thể vượt qua nó thì nó vẫn là rắc rối không cần thiết. Ngoài ra, nếu có thời gian rảnh, thì tốt hơn là tôi dành để đọc Chuyển Pháp Luân và nếu có tiền, thì tốt hơn là dùng để tạo các đĩa DVDs kèm theo thông tin Đại Pháp hơn là lãng phí nó vào các thú vui tầm thường.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/12/26/301975.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/1/2/147729.html
Đăng ngày 27-01-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.